CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP SPIN-OFF ĐỂ THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1. Doanh nghiệp spin-off 1. Khái niệm doanh nghiệp spin-off Khái niệm “spin-off” về bản chất xuất phát từ lĩnh vực vật lý nguyên tử là một quá trình điện tử chuyển động quay quanh hạt nhân khi tích đủ năng lượng thì điện tử đó văng ra khỏi quỹ đạo chuyển động xa hạt nhân hơn.
Theo tác giả Vũ Cao Đàm, doanh nghiệp KH&CN, tức xí nghiệp spin-off là đơn vị có chức năng làm triển khai, có thể bắt đầu từ giai đoạn chế tác vật mẫu, làm pilot, ươm tạo, và cuối cùng là “sản xuất” ra các công nghệ và bán (chuyển giao) các công nghệ đó cho các xí nghiệp công nghiệp. Trong các tài liệu nghiên cứu phương tây, đặc biệt là ở Mỹ và Anh, khái niệm doanh nghiệp khoa học và công nghệ được hiểu là doanh nghiệp khoa học spin-off (academic spin-offs) và doanh nghiệp dựa trên công nghệ mới (doanh nghiệp dựa trên công nghệ cao). Doanh nghiệp spin-off được hiểu là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, được hình thành dựa trên cơ sở áp dụng, khai thác các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tạo ra ở viện nghiên cứu, trường đại học hoặc do cá nhân hoặc tập thể các nhà khoa học, kĩ sư,… có trình độ kiến thức và năng lực chuyên môn cao, có tinh thần kinh thương rời khỏi tổ chức mẹ để bắt đầu một sự kinh doanh độc lập mới. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các sản phẩm của doanh nghiệp KH&CN là các kết quả nghiên cứu KH&CN, đặc biệt là sản phẩm mới, công nghệ mới, do đó nó mang tính đặc thù và khác với các sản phẩm hàng hóa thông thường khác như chứa đựng nhiều yếu tố vô hình, có nhiều ràng buộc về quyền sở hữu, khó định giá.
Tuy nhiên đây lại là nền tảng, là động lực thúc đẩy quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Dựa trên các khái niệm khác nhau, có thể đồng tình với quan điểm của Bạch Tân Sinh cho rằng, việc hình thành doanh nghiệp spin-off tương tự quá trình điện tử chuyển động quay quanh hạt nhân, khi tích đủ năng lượng thì điện tử đó văng ra khỏi quỹ đạo chuyển động. Tuy nhiên, ở đây tác giả bổ sung thêm quan điểm “tích hợp” của tác giả Nguyễn Văn Học, theo đó spin-off là quá trình điện tử quay quanh hạt nhân và tích lũy năng lượng đến khi đủ điều kiện (ái lực giảm dần) thì văng ra khỏi quỹ đạo, kết hợp với một số yếu tố khác bên ngoài để hình thành nên “đám mây điện tử” hoặc “điện tử tự do - doanh nghiệp độc lập”. Từ các phân tích trên đây, có thể đưa ra một khái niệm về doanh nghiệp spin-off phù hợp với điều kiện của Việt Nam như sau: “Doanh nghiệp spin-off là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở áp dụng/khai thác kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ được tạo ra ở viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức nghiên cứu tư nhân hoặc bởi một cá nhân hoặc tập thể nhà khoa học, công nghệ, sáng chế (người khởi xướng/sáng lập doanh nghiệp)”.
Người sáng lập doanh nghiệp spin-off thường có một hoặc cả ba đặc trưng sau đây: + Sở hữu một bí quyết công nghệ cụ thể và có thể áp dụng bí quyết công nghệ đó để đổi mới sản phẩm hoặc đổi mới quá trình; 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Có tinh thần kinh thương: quan tâm đến việc khai thác một cách tối đa bí quyết công nghệ cụ thể đã có; + Để sản xuất sản phẩm và dịch vụ cụ thể đủ năng lực cạnh tranh thị trường trên cơ sở khai thác các nguồn vốn tự có hoặc coi như tự có (vốn vay, vốn mạo hiểm,…) Doanh nghiệp spin-off có thể được xem xét trong mối liên hệ giữa chuyển giao công nghệ hoặc luân chuyển cán bộ nghiên cứu như là một phương thức khai thác giá trị kinh tế đối với kết quả nghiên cứu. Nói một cách khác việc hình thành doanh nghiệp spin-off luôn gắn với chuyển giao bí quyết công nghệ và luân chuyển nguồn nhân lực tham gia vào việc tạo ra các bí quyết công nghệ đó. Vai trò của doanh nghiệp spin-off trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu a. Doanh nghiệp spin-off là phương thức ngắn nhất đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất.
Bản thân doanh nghiệp spin-off là do chính các nhà khoa học - những người nghiên cứu sáng tạo và làm chủ những công nghệ thành lập và điều hành. Như đã nói trên đây, theo quy luật, có thể thời gian đầu, doanh nghiệp spin-off vẫn còn tồn tại ngay trong cơ sở nghiên cứu mẹ với chức năng trực tiếp đưa nhanh kết quả nghiên cứu khoa học của mình vào sản xuất sản phẩm hàng hoá mang hàm lượng chất xám cao cho xã hội. Doanh nghiệp spin-off là phương thức để nhà khoa học tự chủ, tự chịu trách nhiệm đến cùng với kết quả nghiên cứu của mình. Mô hình doanh nghiệp này đề cao vai trò chủ động của các nhà khoa học và là mô hình kinh doanh mới, khai thác các kết quả nghiên cứu công 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghệ một cách nhanh nhậy, khả dĩ sản xuất sản phẩm nhanh hơn, chất lượng hơn và rẻ hơn so với mô hình doanh nghiệp truyền thống.
Ngoài ra, không loại trừ việc hình thành các doanh nghiệp spin-off từ các viện, các tổ chức nghiên cứu. Trong trường hợp đó, doanh nghiệp spin-off được gọi với cái tên là spin-out với nghĩa là tách khỏi khu vực thuần tuý nghiên cứu để hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp. Các doanh nghiệp khoa học spin-off được thành lập trên cơ sở dịch chuyển nhân lực và sở hữu trí tuệ từ cơ quan/tổ chức mẹ. Đây là quá trình chuyển giao tri thức dưới dạng ẩn, khác với cơ chế thương mại hoá công nghệ thông qua bán công nghệ, chuyển nhượng hay bán quyền sử dụng bản quyền hoặc liên doanh.
Nói cách khác, việc hình thành doanh nghiệp spin-off luôn gắn với việc chuyển giao bí quyết công nghệ và lưu chuyển nguồn nhân lực tham gia vào việc tạo nên bí quyết công nghệ đó. Vì vậy, ưu điểm của loại hình doanh nghiệp này là luôn giữ được bí quyết công nghệ đảm bảo quá trình thương mại hoá kết quả nghiên cứu thành công và không phải qua bất kỳ khâu trung gian nào, giảm giá thành chuyển giao. Doanh nghiệp spin-off là phương tiện thực hiện hiệu quả chính sách thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo. Bản thân doanh nghiệp spin-off vừa có chức năng nghiên cứu, vừa có chức năng sản xuất và kinh doanh nên doanh nghiệp spin-off đã tự xác định được nhu cầu cần phải ưu tiên nghiên cứu những sản phẩm gì cho phù hợp với năng lực sản xuất công nghệ của mình đồng thời vẫn đáp ứng được nhu cầu của thị trường để thu lợi nhuận cao.
Theo Lundvall (1992), đổi mới bắt nguồn từ sự xung đột giữa nhu cầu và cơ hội. Chức năng cơ bản của mối quan hệ giữa người sản xuất (người tạo ra công nghệ) và người tiêu dùng (người sử dụng công nghệ) 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chính là trao đổi về cơ hội công nghệ và nhu cầu của người tiêu dùng. Nếu sự trao đổi này thành công, điều đó có nghĩa là đã đạt được sự đổi mới. Trở lại vấn đề, doanh nghiệp spin-off vừa là người sản xuất ra các công nghệ vừa lại là nơi sử dụng công nghệ đó để sản xuất sản phẩm kinh doanh được trên thị trường, điều đó chứng tỏ doanh nghiệp spin-off là phương tiện để thực hiện đổi mới sản phẩm nói riêng và chính sách đổi mới nói chung.
Bên cạnh đó, chi phí giao dịch là chi phí cần thiết để có thể tiến hành trôi chảy một cuộc trao đổi (hay vụ giao dịch). Một cuộc trao đổi có ba bước: Thứ nhất, phải tìm được một đối tác trao đổi, bao gồm việc tìm người muốn mua những thứ cần bán hay muốn bán những thứ có nhu cầu mua. Thứ hai, các đối tác trao đổi phải đi đến một thỏa thuận. Thỏa thuận đạt được thông qua thương lượng thành công, tiến đến soạn thảo một bản hợp đồng.
Thứ ba, sau khi đã đạt được thỏa thuận thì phải thực thi thỏa thuận đó. Thực thi thỏa thuận bao gồm giám sát việc thực hiện của các bên và trừng phạt đối với những vi phạm hợp đồng. Vì vậy, chi phí giao dịch gồm các loại: chi phí tìm kiếm và thông tin, chi phí thương thảo, chi phí đảm bảo thực hiện hợp đồng, … Câu hỏi đặt ra là khi nào thì các chi phí giao dịch cao và khi nào thì thấp. Đối với chi phí tìm kiếm (tìm kiếm thông tin lẫn tìm kiếm đối tác) thì có khuynh hướng cao đối với hàng hóa hay dịch vụ độc đáo, và thấp đối với hàng hóa hay dịch vụ đã chuẩn hóa.
Chuyển qua chi phí thương thảo, chi phí này sẽ giảm khi mà cả hai bên đều đã nắm rõ được các giải pháp hợp tác cũng như các giá trị của nhau. Tuy nhiên, điều này sẽ là rất khó khăn bởi có những thông tin có thể công khai nhưng cũng có thông tin thì không thể (thông tin riêng tư). Nói chung, thông tin công khai giúp các bên đạt được thỏa thuận dễ dàng hơn bằng cách cho phép họ tính toán những điều kiện hợp tác hợp lý. Kết quả là các cuộc thương lượng có khuynh hướng đơn giản và dễ dàng khi thông tin về giá trị 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đe dọa và giải pháp hợp tác là công khai.
Điều này dẫn đến làm cho chi phí giao dịch giảm.Việc thu thập thông tin là chìa khoá dẫn đến các chi phí giao dịch, bao gồm các chi phí đánh giá các thuộc tính có giá trị của những thứ được trao đổi. Bên cạnh đó, chi phí giao dịch cũng bao gồm các chi phí bảo vệ các quyền và chi phí kiểm soát, chi phí cưỡng chế thi hành các thoả thuận. Theo Lundvall (1992), chi phí giao dịch phát sinh theo quan điểm quá trình tạo nên sự tin tưởng lẫn nhau giữa những người tạo ra và sử dụng tri thức thường rất tốn kém. Hay nói một cách khác, chi phí giao dịch giữa một bên tạo nên và một bên sử dụng tri thức ở hai tổ chức khác nhau thì cao hơn nhiều so với chi phí giao dịch đó nếu hai bên ở trong cùng một tổ chức.