phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và 2 chƣơng, 5 tiết. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƢỚC TA VỀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 1. Cơ sở lý luận để xây dựng chính sách của Đảng và Nhà nƣớc ta về đoàn kết dân tộc 1.1 Một số khái niệm * Khái niệm “dân tộc”: Trong ngôn ngữ diễn đạt hay trong nhận thức, quan niệm của chúng ta, khái niệm dân tộc đƣợc hiểu rất đa nghĩa, đa cấp độ. Dân tộc là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau.
Trong thực tiễn, khái niệm dân tộc liên quan trực tiếp đến việc xác định thành phần dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc, giải quyết các quan hệ dân tộc mà trực tiếp là việc đƣa ra và thực hiện đúng chính sách dân tộc. Chính vì vậy, việc xác định khái niệm “dân tộc” là rất cần thiết và đã có rất nhiều tài liệu đƣa ra định nghĩa về dân tộc: Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Dân tộc: 1. Cộng đồng ngƣời ổn định hình thành trong quá trình lịch sử của xã hội, có chung tiếng nói, lãnh thổ, đời sống kinh tế và tâm lý. Ví dụ: đoàn kết dân tộc.
Dân tộc thiểu số, ví dụ: cách nói tắt: ƣu tiên học sinh dân tộc. Cộng đồng ngƣời ổn định làm thành nhân dân một nƣớc, một quốc gia gắn bó với nhau trong truyền thống, nghĩa vụ và quyền lợi. Ví dụ: Dân tộc Việt Nam” [53, 520]. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Dân tộc: 1.
Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là cộng đồng chính trị - xã hội đƣợc chỉ đạo bởi một nhà nƣớc, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc ngƣời (ethnie) của bộ phận tộc ngƣời. Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phƣơng thức sản xuất khác nhau. Bƣớc vào giai đoạn phát triển công nghiệp, rõ rệt nhất là ở các nƣớc phƣơng Tây, do yêu cầu xóa bỏ tính chất cát cứ của các lãnh địa trong một dân tộc, nhằm tạo ra một thị trƣờng chung, nên cộng đồng dân tộc đƣợc cấu kết 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chặt chẽ hơn. Kết cấu của cộng đồng dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội trong khu vực và bản thân.
Một cộng đồng dân tộc thƣờng bao gồm nhiều cộng đồng tộc ngƣời, với nhiều ngôn ngữ, yếu tố văn hóa, thậm chí nhiều chủng tộc khác nhau… 2. Dân tộc (ethnie) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc ngƣời. Ví dụ: dân tộc Tày, dân tộc Bana… Cộng đồng đó có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau, đƣợc liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giác tộc ngƣời” [44, 655]. Qua một số định nghĩa trên có thể thấy đƣợc hai cấp độ hay hai phƣơng diện khác nhau của khái niệm “Dân tộc”: Cấp độ chung phổ quát: Dân tộc – quốc gia: dân tộc đồng nghĩa với quốc gia (nation) hay đất nƣớc, Tổ quốc, ví dụ: dân tộc Việt Nam, dân tộc Đức… Ở đây, khái niệm dân tộc đƣợc dùng để chỉ một cộng đồng ngƣời ổn định, làm thành nhân dân một nƣớc, có một lãnh thổ quốc gia, một nền kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chung và có tâm lý chung biểu hiện trong văn hóa của quốc gia dân tộc.
Cấp độ hẹp hơn: Dân tộc – tộc ngƣời (ethnie), thƣờng đƣợc dùng nhƣ khái niệm công cụ của các ngành dân tộc học, nhân chủng học, xã hội học, văn hóa học, lịch sử… Ở đây, khái niệm dân tộc dùng để chỉ cộng đồng ngƣời hình thành, phát triển trong lịch sử với ba đặc trƣng cơ bản đó là có chung một ngôn ngữ tộc ngƣời, một bản sắc văn hóa tộc ngƣời và đặc biệt có ý thức tự giác tộc ngƣời. Thực tế cho thấy: một cộng đồng dân tộc (nation) thƣờng bao gồm nhiều cộng đồng tộc ngƣời (ethnie) với những yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, thậm chí yếu tố chủng tộc khác nhau. Vì vậy, xem xét vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc đòi hỏi phải nghiên cứu, phân tích từng cảnh huống sử dụng khái niệm một cách cụ thể. Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi nghiên cứu và sử 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dụng khái niệm dân tộc theo nghĩa hẹp: dân tộc – tộc ngƣời, tức khi nói đoàn kết dân tộc ở đây có nghĩa là đoàn kết các dân tộc – tộc ngƣời ở nƣớc ta.
Trong tình hình hiện nay, trƣớc những biến động lớn và phức tạp của đời sống chính trị - xã hội thế giới và ở nhiều khu vực, trong đó nhiều xung đột, tranh chấp bắt nguồn từ quan hệ dân tộc – tộc ngƣời, từ nhu cầu nâng cao nhận thức chung của cán bộ, nhân dân về dân tộc, các quan hệ dân tộc, về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nƣớc… càng đặt ra yêu cầu phải đi sâu làm rõ khái niệm dân tộc với tƣ cách là cộng đồng tộc ngƣời. Khi đƣa ra khái niệm dân tộc – tộc ngƣời, các nhà khoa học đều quan tâm đến những tiêu chí xác định dân tộc. Tuy nhiên, việc xác định tiêu chí tộc ngƣời rất phức tạp, tồn tại nhiều ý kiến khác nhau về xác định tiêu chí tộc ngƣời hoặc khác nhau về tầm quan trọng, thứ bậc của các tiêu chí đó. Ở Việt Nam, lãnh thổ hay địa vực cƣ trú và đặc trƣng kinh tế không đƣợc coi là tiêu chí xác định thành phần dân tộc (do ở nƣớc ta, các dân tộc sống đan xen, và do tình hình giao lƣu kinh tế, sinh hoạt kinh tế của các tộc ngƣời cũng ngày càng thay đổi).
Do vậy, hầu hết các tác giả đều tán thành ba tiêu chí xác định thành phần dân tộc, đó là: Đặc trƣng về tiếng nói; Đặc trƣng về đặc điểm sinh hoạt văn hóa; Đặc trƣng về ý thức tự giác tộc ngƣời. * Khái niệm đoàn kết: Đoàn kết đƣợc hiểu là sự tập hợp các thành phần thành một khối thống nhất, đồng thuận vì công việc chung, lợi ích chung. Nhƣng đó không phải là sự tập hợp có tính máy móc, giản đơn, tự phát. Khái niệm đoàn kết cần đƣợc hiểu theo những nội dung sau: Theo lý thuyết hệ thống, đoàn kết là sự tập hợp thành hệ thống các nhân tố riêng lẻ, cá biệt thành một hệ thống có trật tự theo một quy trình vận động nhất định, tạo nên một tổng hợp lực phát huy sức mạnh theo cấp số nhân đối với từng cá nhân riêng lẻ.
Đó không phải là một phép cộng giản đơn các cá nhân lại với nhau. Đó chính là biểu hiện của những thay đổi về lƣợng dẫn đến sự thay đổi về chất. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ góc độ xã hội, đoàn kết là thể hiện sự đồng thuận của các thành viên trong xã hội. Mọi ngƣời chấp nhận nhau và thuận lòng gắn bó với nhau để cùng hành động cho mục tiêu chung.
Cho dù vẫn còn sự khác biệt nhất định, nhƣng thông qua mục tiêu chung, các thành viên tìm thấy lợi ích của mình, tìm thấy chỗ đứng của mình trong xã hội và tiến trình lịch sử. Đó là mối quan hệ thống nhất giữa cái chung và cái riêng. Từ góc độ kinh tế, đoàn kết là một quá trình giải quyết những mâu thuẫn về lợi ích, những xung đột về quyền lợi, để đi đến hài hòa mà mọi ngƣời có thể chấp nhận đƣợc, có thể thỏa mãn đƣợc quyền lợi của mình. Sự đoàn kết đó chỉ có thể đƣợc xác lập trên cơ sở công bằng, bình đẳng.
Đoàn kết phải đƣợc xây dựng trên cơ sở lợi ích, coi lợi ích chính là động lực cho sự phát triển của lịch sử. Từ góc độ tâm lý, đoàn kết là sự bao dung, nhân ái, coi trọng tình thƣơng và lẽ phải. Nó bắt nguồn từ tính nhân văn trong mỗi con ngƣời. Đồng thời đó cũng là yếu tố để mỗi thành viên hòa mình vào cộng đồng, vào xã hội.
Từ góc độ văn hóa, đoàn kết chính là một giá trị đạo đức của con ngƣời. Đoàn kết không chỉ là một bản năng bẩm sinh, mà còn là một đức tính, một hành vi ứng xử thể hiện một giá trị nhân văn cao cả, thể hiện tính xã hội của con ngƣời khác với tính bầy đoàn của động vật. Về góc độ tổ chức, đoàn kết chính là một cấp độ cao của sự tập hợp. Trong tập hợp đó, tính cố kết, tính ràng buộc, tính chế định lẫn nhau đƣợc nâng lên đến mức nếu tách khỏi tổ chức thì mỗi cá nhân không có phát huy đƣợc vai trò lịch sử của mình trong xã hội.
Sự khác biệt và sự thống nhất của tổ chức đoàn thể sẽ tạo nên tính năng động của tổ chức đó. Đó chính là cái cần thiết cho công cuộc đổi mới. Với những nội hàm nhƣ thế, chúng ta không nên đơn giản hóa vấn đề đoàn kết chỉ còn là những lời hiệu triệu hoặc những mệnh lệnh, dẫn đến kết quả là tạo nên sự đoàn kết một cách hình thức. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với cách hiểu dân tộc là những tộc ngƣời, cộng đồng tộc ngƣời thì đoàn kết các dân tộc sẽ hình thành một khối thống nhất cao hơn, đó chính là quốc gia, đất nƣớc (cách hiểu thứ hai của khái niệm dân tộc).
Nhƣ vậy, đoàn kết các dân tộc (theo cách hiểu thứ nhất của khái niệm dân tộc) chính là một nội dung của đoàn kết dân tộc (dân tộc hiểu theo nghĩa thứ hai). * Khái niệm “chính sách”: Chính sách là thuật ngữ đƣợc sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, qua tìm hiểu các tài liệu, các nghiên cứu cho thấy khái niệm chính sách đƣợc thể hiện khác nhau, ví dụ: Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra; hoặc Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội. Chính sách dân tộc là một hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nƣớc tác động vào các dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam, trực tiếp nhất vào các dân tộc thiểu số và miền núi.