Tổng quan nghiên cứu

Tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại Việt Nam từ sau năm 1986 đã thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt bậc, song cũng tạo ra những áp lực chưa từng có lên hệ sinh thái tự nhiên và môi trường xã hội. Điển hình như sau Quyết định số 15/2008/QH12, diện tích địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội đã mở rộng gấp hơn 3,6 lần, kéo theo làn sóng đô thị hóa cuồng nộ lan nhanh về các vùng nông thôn và bán sơn địa. Thực trạng này đặt ra vấn đề nghiên cứu cấp thiết: Văn học nghệ thuật phản ánh và giải quyết những xung đột môi trường cùng thân phận con người trong cơn lốc đô thị hóa như thế nào?

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số 8220121) của tác giả Phạm Thị An, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phạm Phương Chi, tập trung giải mã vấn đề đô thị hóa và thân phận người phụ nữ trong truyện ngắn của Đỗ Phấn từ góc nhìn phê bình sinh thái. Mục tiêu cụ thể của công trình là làm sáng rõ bức tranh sinh thái đô thị bị tổn thương, phân tích sự bành trướng của không gian nhân tạo đối với thế giới phi nhân, đồng thời chỉ ra mối liên hệ tương đồng sâu sắc giữa sự áp bức tự nhiên và sự thống trị đối với người phụ nữ.

Phạm vi khảo sát của đề tài bao quát 43 tác phẩm tiêu biểu nằm trong 3 tập truyện ngắn xuất bản giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2016 của Đỗ Phấn. Về mặt ý nghĩa học thuật, luận văn đã lấp đầy khoảng trống nghiên cứu khi chuyển dịch trọng tâm từ thể loại tiểu thuyết sang truyện ngắn, đóng góp thêm 100% ngữ liệu truyện ngắn vào hệ thống đánh giá toàn diện tư tưởng sinh thái của một trong những cây bút đô thị đương đại xuất sắc nhất.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên ba trụ cột học thuật mang tính liên ngành:

Thứ nhất, lý thuyết phê bình sinh thái (Ecocriticism) khởi phát từ đầu thập niên 1970 tại Mỹ và Tây Âu, với các định nghĩa nền tảng của Cheryll Glotfelty và Lawrence Buell, sau đó được phát triển hoàn thiện qua góc nhìn chỉnh thể luận sinh thái của học giả Vương Nặc và nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Tịnh Thy. Lý thuyết này chuyển dịch tư duy từ việc lấy con người làm trung tâm sang lấy Trái Đất và sự cân bằng môi sinh làm thước đo giá trị.

Thứ hai, nhánh phê bình sinh thái đô thị (Urban Ecocriticism) được định hình qua công trình của Michael Bennett, David W. Teague và Christopher Schliephake. Khung lý thuyết này chuyên sâu phân tích sự xung đột giữa môi trường xây dựng nhân tạo với tự nhiên, vạch trần các diễn ngôn chống đô thị và sự tha hóa của không gian sống.

Thứ ba, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái (Ecofeminism) bắt nguồn từ công trình của Françoise d'Eaubonne năm 1974, phát triển qua các luận điểm của Vandana Shiva năm 1988 và Karen J. Warren. Lý thuyết này chỉ ra nguồn gốc chung của sự áp bức: chế độ phụ quyền gia trưởng vừa bóc lột giới nữ vừa tàn sát thiên nhiên.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được vận dụng bao gồm: Chủ nghĩa nhân loại trung tâm (Anthropocentrism), Chấn thương sinh thái (Ecological trauma), Tu từ chống đô thị (Anti-urban rhetoric) và Luân lý chở che (Ethic of care).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu khảo sát của luận văn được tuyển chọn từ toàn bộ 52 truyện ngắn thuộc 3 tập sách đã xuất bản của Đỗ Phấn: Kiến đi đằng kiến (Nxb Phụ nữ, 2009), Đêm tiền sử (Nxb Hội nhà văn, 2010) và Thác hoa (Nxb Trẻ, 2016).

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 43 truyện ngắn được chọn lọc kỹ lưỡng, chiếm tỷ lệ khoảng 82,7% tổng số tác phẩm truyện ngắn của tác giả. Cụ thể gồm 10 trên 15 truyện ở tập Kiến đi đằng kiến, 15 trên 19 truyện ở tập Đêm tiền sử, và toàn bộ 18 trên 18 truyện ở tập Thác hoa.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích (Purposive Sampling). Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm tập trung tối đa vào các tác phẩm mang đậm cảm quan sinh thái, chứa đựng mật độ dày đặc các xung đột giữa đô thị hóa, thiên nhiên và thân phận nữ giới.

Phương pháp phân tích được thực hiện tích hợp qua: Phương pháp tiếp cận liên ngành (văn học kết hợp sinh thái học, xã hội học đô thị và giới tính); Phương pháp so sánh - lịch sử (đối chiếu diễn ngôn văn học với các tài liệu quy hoạch hành chính như Quyết định số 1259/QĐ-TTg năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ); Phương pháp thi pháp học hiện đại (giải mã cấu trúc không gian, thời gian và giọng điệu nghệ thuật). Lý do kết hợp các phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, vừa bóc tách được giá trị nghệ thuật vừa làm nổi bật thông điệp cảnh báo môi trường của tác phẩm trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát 43 tác phẩm truyện ngắn của Đỗ Phấn đã mang lại bốn phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, sự bành trướng mang tính hủy diệt của không gian đô thị. Đô thị hóa hiện lên như một thực thể cuồng nộ, xóa sạch dấu tích của những ngôi làng châu thổ nghìn năm và các vườn đào hàng trăm năm chỉ trong chốc lát. Khoảng 100% tác phẩm khảo sát đều miêu tả sự xâm lấn của các trục đường cao tốc, quốc lộ và các dãy nhà bê tông ốp gạch men thô kệch, tạo nên cảm giác bức bối, ngột ngạt.

Thứ hai, chấn thương sinh thái và sự bức tử thế giới loài phi nhân. Kết quả phân tích chỉ ra hơn 75% số truyện phản ánh nỗi đau đớn của thế giới tự nhiên. Từ hình ảnh đàn kiến bị thiêu rụi bởi lửa và thuốc diệt côn trùng trong truyện ngắn Kiến đi đằng kiến, đến việc tận diệt động vật hoang dã để phục vụ món đặc sản thịt rừng cho thị dân giàu có, tài nguyên rừng và biển đều bị vắt kiệt bởi các phương tiện cơ giới hiện đại như đèn rọi câu mực hay thuốc nổ đánh cá.

Thứ ba, sự lật tẩy ảo tưởng du lịch sinh thái. Đỗ Phấn chứng minh rằng các dự án gắn mác du lịch sinh thái thực chất là biểu hiện của tình trạng thương mại hóa thô bạo. Các di tích, hang động thiên nhiên bị lắp đèn laze, loa đài lòe loẹt như quán hát karaoke, thể hiện thái độ nhân loại trung tâm áp đặt lên tự nhiên dưới vỏ bọc yêu thiên nhiên.

Thứ tư, sự song trùng số phận giữa phụ nữ và tự nhiên. Trong thế giới truyện ngắn Đỗ Phấn, phụ nữ và môi trường tự nhiên đều là nạn nhân chịu sự áp bức, bóc lột về sức lao động, thân xác và tình dục. Tuy nhiên, phụ nữ cũng chính là chủ thể mang thiên tính bảo tồn sự sống, đóng vai trò kết nối nam giới trở về với lối sống hài hòa tự nhiên.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến các tổn thương sinh thái trong sáng tác của Đỗ Phấn bắt nguồn từ ảo tưởng quyền lực của con người thời kỳ mở cửa và ma lực của lợi nhuận kinh tế. Khi con người tự cho mình quyền thống trị muôn loài, tự nhiên buộc phải phản kháng bằng ngập lụt, khói bụi, ô nhiễm và sự cạn kiệt nguồn sống, đẩy con người vào trạng thái khủng hoảng tâm lý và tha hóa nhân tính.

So sánh với các công trình nghiên cứu trước đây như khảo sát của Đặng Thị Thái Hà năm 2015 hay Lê Hương Thủy năm 2017 vốn chỉ giới hạn trên 5 cuốn tiểu thuyết, kết quả nghiên cứu truyện ngắn đã khẳng định cảm quan sinh thái là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Đỗ Phấn. Bút pháp của ông thể hiện rõ giọng điệu châm biếm, mỉa mai sắc sảo qua những câu văn ngắn, cấu trúc câu hỏi tu từ đầy day dứt và xót xa.

Dữ liệu nghiên cứu trong luận văn có thể được trực quan hóa thông qua bảng phân loại các dạng thức chấn thương sinh thái và biểu đồ tỷ lệ phản ánh không gian. Trong đó, biểu đồ thể hiện rõ khoảng 65% dung lượng văn bản tập trung vào sự va đập giữa không gian phố thị và làng quê, 35% dung lượng phân tích mối tương quan giữa thân phận nữ giới và bảo tồn giống loài tự nhiên. Bảng đối chiếu các hình thức bóc lột cũng minh chứng rõ ràng: hành vi tàn phá môi trường luôn song hành tương ứng với sự hạ thấp nhân phẩm người phụ nữ trong xã hội gia trưởng tiêu dùng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết luận khoa học của luận văn, bốn nhóm giải pháp cụ thể được đề xuất nhằm nâng cao nhận thức sinh thái và ứng dụng nghiên cứu văn học vào đời sống thực tiễn:

Thứ nhất, tích hợp học phần Phê bình sinh thái vào chương trình đào tạo đại học và sau đại học ngành Ngữ văn. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các trường đại học sư phạm, khoa học xã hội cần đưa văn học môi trường thành môn học chính khóa trong giai đoạn 2024 - 2026, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ đề tài nghiên cứu văn học xanh lên mức tối thiểu 25% trong hệ thống luận văn thạc sĩ.

Thứ hai, hoàn thiện quy chuẩn đánh giá tác động văn hóa - môi trường trong quy hoạch đô thị. Bộ Xây dựng và chính quyền các đô thị trực thuộc Trung ương cần kiểm soát chặt chẽ việc mở rộng địa giới hành chính, bảo đảm duy trì tỷ lệ không gian xanh tự nhiên đạt tối thiểu 30% tổng diện tích đất phát triển đô thị đến năm 2030, ngăn chặn tình trạng bê tông hóa tràn lan phá hủy hệ sinh thái bản địa.

Thứ ba, nâng cao vai trò của phụ nữ trong quản trị và giám sát môi trường sinh thái. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cùng các tổ chức bảo tồn thiên nhiên cần xây dựng các chương trình hành động thực tế, phát huy luân lý chở che của giới nữ, phấn đấu đạt mục tiêu 100% các dự án xây dựng nông thôn mới và phát triển du lịch sinh thái có sự tham vấn của đại diện phụ nữ địa phương.

Thứ tư, tăng cường xuất bản và truyền thông các tác phẩm văn học mang cảm thức sinh thái. Các cơ quan báo chí, nhà xuất bản và Hội Nhà văn Việt Nam cần tổ chức các giải thưởng chuyên đề văn học môi trường, duy trì định kỳ 2 số chuyên đề học thuật mỗi năm nhằm lan tỏa thông điệp sống xanh đến cộng đồng độc giả.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

Nhóm thứ nhất: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học. Luận văn cung cấp khung lý thuyết phê bình sinh thái và nữ quyền sinh thái chuẩn mực, ứng dụng trực tiếp vào việc phân tích tác phẩm văn xuôi hiện đại.

Nhóm thứ tư: Các nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực Xã hội học, Nghiên cứu Giới và Môi trường học. Công trình cung cấp hệ thống dẫn chứng văn học sống động về tác động xã hội của quá trình di dân, đô thị hóa và sự biến đổi của cấu trúc gia đình truyền thống.

Nhóm thứ ba: Các chuyên gia hoạch định chính sách, kiến trúc sư và nhà quy hoạch không gian đô thị. Luận văn gợi mở cái nhìn phản biện về mặt trái của hạ tầng cơ sở, giúp cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo tồn không gian sống nhân văn.

Nhóm thứ tư: Độc giả quan tâm đến văn nghiệp của Đỗ Phấn và văn học đương đại. Tài liệu giúp người đọc nâng cao ý thức bảo vệ môi sinh và thấu cảm sâu sắc hơn với thân phận con người trong kỷ nguyên công nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Phê bình sinh thái là gì và tại sao lại áp dụng vào truyện ngắn Đỗ Phấn?

Phê bình sinh thái là phương pháp nghiên cứu văn học lấy mối quan hệ tương tác giữa con người và tự nhiên làm trung tâm, phê phán tư tưởng nhân loại trung tâm. Ứng dụng lý thuyết này vào 43 truyện ngắn của Đỗ Phấn giúp giải mã bản chất các chấn thương tâm lý, xã hội của thị dân phát sinh từ quá trình đô thị hóa thiếu bền vững.

Mối liên hệ giữa phụ nữ và tự nhiên trong tác phẩm được thể hiện ra sao?

Cả phụ nữ và tự nhiên đều là đối tượng chịu sự áp bức kép của hệ tư tưởng phụ quyền gia trưởng và nền kinh tế tiêu dùng. Người phụ nữ bị bóc lột sức lao động, thân xác và tình dục tương tự như cách con người tàn phá đất đai, muông thú; song chính phụ nữ lại là người gìn giữ bản năng kết nối con người với thiên nhiên.

Vì sao quá trình đô thị hóa trong truyện ngắn Đỗ Phấn bị ví như một cơn ác mộng?

Tác giả miêu tả đô thị hóa phát triển với tốc độ cuồng nộ, xóa sạch cấu trúc làng quê và hệ thống sinh thái tự nhiên tồn tại hàng nghìn năm. Sự biến mất của cây xanh, sự ô nhiễm khói bụi, ngập lụt cùng kiến trúc bê tông dị hợm đã biến thành phố thành không gian giam hãm, gây tổn thương thể xác và tâm hồn thị dân.

Ảo tưởng du lịch sinh thái trong nghiên cứu được hiểu như thế nào?

Ảo tưởng du lịch sinh thái là việc thương mại hóa cảnh quan thiên nhiên dưới danh nghĩa bảo tồn. Thực chất, con người đã đưa các yếu tố giải trí xô bồ như đèn laze, phòng hát vào hang động, di tích, làm biến dạng nguyên trạng tự nhiên và thể hiện thái độ áp đặt quyền lực con người lên tạo hóa.

Cỡ mẫu khảo sát 43 trên 52 truyện ngắn mang lại độ tin cậy khoa học như thế nào?

Cỡ mẫu đạt tỷ lệ 82,7% tổng số truyện ngắn của Đỗ Phấn trong 3 tập sách giai đoạn 2009 - 2016 bảo đảm tính đại diện cao. Việc lựa chọn mẫu có chủ đích giúp luận văn khái quát toàn diện các đặc điểm thi pháp, tư tưởng sinh thái của tác giả mà không bị rơi vào hiện tượng quy nạp vội vã.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích thành công 43 truyện ngắn của Đỗ Phấn từ lăng kính phê bình sinh thái và nữ quyền sinh thái, xác lập góc nhìn liên ngành toàn diện về văn xuôi đương đại.
  • Công trình chứng minh đô thị hóa thiếu kiểm soát là nguồn cơn chính gây ra chấn thương sinh thái, làm đứt gãy mối liên kết giữa con người và tự nhiên.
  • Luận văn khẳng định sự tương đồng số phận giữa tự nhiên và người phụ nữ, đồng thời đề cao luân lý chở che của giới nữ trong việc hàn gắn môi sinh.
  • Định hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phạm vi khảo sát sang 152 tản văn và các tác phẩm xuất bản sau năm 2016 của Đỗ Phấn để hoàn thiện chân dung nghệ thuật của tác giả.
  • Thông điệp cốt lõi gửi đến xã hội: Tôn trọng tự nhiên và thúc đẩy bình đẳng giới chính là con đường duy nhất để xây dựng một xã hội văn minh, nhân bản và phát triển bền vững.