Chương 1 đã trình bày tổng quan về đề tài với các nội dung bao gồm: Lý do chọn đề tài, Mục tiêu nghiên cứu, Câu hỏi nghiên cứu, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, Các đóng góp chính của đề tài và Kết cấu của nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tín dụng ngân hàng Tín dụng là mối quan hệ giữa người vay và người cho vay. Trong đó, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho vay cho người đi vay trong thời gian nhất định nào đó. Người đi vay có nghĩa vụ phải trả đủ số tiền hoặc hàng hóa đã đi vay khi đến hạn, có thể kèm hoặc không kèm theo lãi.
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng (NH), các tổ chức tín dụng (TCTD) với các doanh nghiệp hay các cá nhân (bên đi vay). Trong đó, NH hay TCTD sẽ chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định, khi đến hạn, bên đi vay phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho TCTD. Phân loại tín dụng ngân hàng: Về cơ bản, hiện nay tín dụng ngân hàng được chia làm 2 loại chính gồm: Tín dụng cá nhân: Phục vụ cho những nhu cầu sử dụng vốn cá nhân như mua nhà, mua xe, kinh doanh, trang trải cuộc sống cá nhân. Tín dụng doanh nghiệp: Phục vụ cho những nhu cầu sử dụng vốn của những doanh nghiệp như mua sắm tài sản, thanh toán công nợ, bổ sung vốn lưu động.
Ngoài ra, còn có các cách phân loại khác như sau: Dựa trên thời hạn tín dụng: Tín dụng ngắn hạn: Thời hạn không quá 12 tháng; Tín dụng trung hạn: Thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng; Tín dụng dài hạn: Thời hạn lớn hơn 60 tháng. Dựa trên đối tượng tín dụng: Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được dùng để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh doanh; Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng dùng để hình thành tài sản cố định. 6 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng: Trong nền kinh tế, ngân hàng đóng vai trò là định chế tài chính trung gian nên trong mối quan hệ tín dụng với doanh nghiệp hay cá nhân, ngân hàng vừa là người đi vay và vừa là người cho vay. Với tư cách là người đi vay, NH nhận tiền gửi của doanh nghiệp, cá nhân hoặc có thể phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội.
Còn với tư cách là nguời cho vay, NH sẽ cấp tín dụng cho người đi vay. Nhìn chung, tín dụng ngân hàng có một số ưu điểm nổi bật như: Hình thức phổ biến của tín dụng ngân hàng là cho vay tiền tệ, rất linh hoạt và đáp ứng đúng nhu cầu của mọi đối tượng trong nền kinh tế. Vì thế nên phạm vi hoạt động cũng rất lớn; Cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành phần trong xã hội chứ không phải là vốn thuộc sở hữu hoàn toàn của một cá nhân, tổ chức như tín dụng thương mại; Thỏa mãn gần như tối đa về vốn trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội; Thời hạn vay phong phú, có thể là ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn đều được. Vai trò của tín dụng ngân hàng: Đối với khách hàng cá nhân, tín dụng ngân hàng giúp cho họ có cuộc sống ổn định, sung túc hơn bằng việc mua trả góp nhà cửa, xe cộ, đồ dùng gia đình… Đối với doanh nghiệp, tín dụng ngân hàng giúp đáp ứng nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất, đẩy mạnh trao đổi, phân phối.
Nhờ vậy mà doanh nghiệp mới có thể hoạt động hiệu quả và phát triển hơn.2 Dịch vụ và chất lượng dịch vụ 2.1 Dịch vụ Có nhiều cách định nghĩa thuật ngữ “dịch vụ” khác nhau. ISO 9004:1991 định nghĩa dịch vụ “là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người 7 cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng”. Trong khi đó, Philip Kotler (2001) cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”.
Zeithaml và Bitner (2000) cho rằng: dịch vụ là việc tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng thông qua các hành vi, quá trình hoặc cách thực hiện một công việc nào đó. Do đó, dịch vụ có thể được hiểu là một hoạt động mà chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, chúng có tính vô hình, không làm thay đổi quyền sở hữu và có thể được tiến hành nhưng không nhất thiết phải gắn liền với sản phẩm vật chất.2 Chất lượng dịch vụ Lewis và Boom (1983): Chất lượng dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với sự mong đợi của khách hàng tốt đến đâu. Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng một cách độc nhất. Chất lượng dịch vụ còn được định nghĩa là khả năng của một dịch vụ, bao gồm: độ bền tổng thể, độ tin cậy, độ chính xác, sự dễ vận hành, dễ sửa chữa và các thuộc tính có giá trị khác để thực hiện các chức năng của nó (Philip Kotler và cộng sự, 2005).
Gronroos (1984) cho rằng: Chất lượng dịch vụ được đánh giá trên hai khía cạnh: chất lượng kỹ thuật và chất lưỡng kỹ năng. Chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ còn chất lượng chức năng nói lên chúng được phục vụ như thế nào. Chất lượng dịch vụ còn là sự đánh giá của khách hàng về tính siêu Việt và sự tuyệt vời nói chung của một tập thể, đó là một dạng thái độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được (Zeithaml, 1987), chất lượng dịch vụ bao gồm những đặc điểm sau đây: Tính vô hình: Dịch vụ không thể sờ mó, cân đong, đo đếm một cách bình thường, không có hình dáng cụ thể như đối với các sản phẩm vật chất hữu hình. 8 Tính không thể cất trữ: Dịch vụ không thể cất trữ, lưu lại kho rồi đem bán như hàng hóa khác.
Tính không thể tách rời: Tính không thể tách rời thể hiện ở việc khó thể phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rõ ràng là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Tính không đồng nhất: Việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, nhà cung cấp dịch vụ, lĩnh vực phục vụ, đối tượng khách phục vụ và địa điểm. Tính vượt trội: Sự đánh giá về tính vượt trội của chất lượng dịch vụ chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự cảm nhận từ phía người sử dụng dịch vụ. Tính đặc trưng của sản phẩm: Chất lượng dịch vụ là tổng thể những mặt cốt lõi nhất và tinh túy nhất kết tinh trong sản phẩm dịch vụ tạo nên tính đặc trưng của sản phẩm dịch vụ.
Tính cung ứng: Chất lượng dịch vụ gắn liền với quá trình thực hiện, chuyển giao dịch vụ đến khách hàng. Tính thỏa mãn nhu cầu: Dịch vụ được tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng. Tính tạo ra giá trị: Chất lượng dịch vụ gắn liền với các giá trị được tạo ra nhằm phục vụ khách hàng.3 Sự hài lòng Theo Bachelel (1995), Sự hài lòng của khách hàng như một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng qua sự trải nghiệm của họ về một sản phẩm hay một dịch vụ. Fornell (1995) cho rằng Sự hài lòng hoặc không hài lòng sau khi sử dụng, được khái niệm như là phản ứng của người khách hàng đó về việc đánh giá bằng trực giác sự khác nhau giữa việc trước và sau khi tiêu dung với cảm nhận thực tế sau khi sử dụng nó.
9 Theo Oliver (1997), Sự hài lòng của khách hàng còn là trạng thái tâm lý mà khách hàng cảm nhận về một công ty (tổ chức) khi những kỳ vọng của họ được thỏa mãn hoặc vượt qua sự mong đợi thông qua tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ. Sự hài lòng và chất lượng dịch vụ là hai khái niệm được phân biệt nhưng có quan hệ gần gũi với nhau. Chất lượng dịch vụ là khái niệm mang tính khách quan, nhận thức, đánh giá, trong khi sự hài lòng là sự kết hợp của các thành phần mang tính chủ quan, dựa vào cảm giác, xúc cảm. Sự hài lòng của khách hàng đề cập đến các tiêu chí mà khách hàng cảm nhận được khi sử dụng một dịch vụ nào đó, còn nói đến chất lượng dịch vụ là quan tâm đến các thành phần cụ thể của dịch vụ.
Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng đã được nghiên cứu từ rất lâu và cũng không còn nghi ngờ gì nữa về mối quan hệ này, chất lượng dịch vụ nâng cao sẽ góp phần nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp cung cấp. Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng khi chất lượng dịch vụ cao sẽ dẫn đến sự hài lòng khách hàng cao. Trong môi trường cạnh tranh hiện nay, chìa khóa mang lại lợi thế cạnh tranh bền vững nằm ở việc mang lại chất lượng dịch vụ cao mang lại sự thỏa mãn nhất của khách hàng (Shemwell và cộng sự, 1998). Cronin Taylor (1992) cũng đã tiến hành kiểm định mối quan hệ này và đi đến kết luận rằng cảm nhận về chất lượng dịch vụ dẫn đến sự hài lòng của khách hàng.
Khách hàng càng đánh giá cao các yếu tố cơ sở vật chất, sự tin cậy, năng lực phục vụ, giải quyết khiếu nại và các chính sách của doanh nghiệp thì họ càng đánh giá cao đến chất lượng dịch vụ.2 Các mô hình đo lường chất lượng dịch vụ 2.1 Mô hình SERVQUAL Parasuraman và cộng sự (1985) đã đề xuất mô hình hình chất lượng khoảng cách giữa khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ với các khoảng cách khác nhau: 10 Khoảng cách 1: là khoảng cách giữa sự mong đợi thật sự của khách hàng và sự nhận thức của nhà quản lý dịch vụ du lịch về điều đó. Nếu khoảng cách này lớn tức là nhà quản lý du lịch chưa nắm rõ được khách hàng mong đợi gì. Vì vậy hiểu chính xác khách hàng mong đợi gì là bước đầu tiên và là quan trọng nhất trong việc cung cấp có chất lượng đối với một dịch vụ.