Chương 1: Tổng quan về SAIGONBANK và vấn đề nghiên cứu Chương 2: Tổng quan lý thuyết về dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Những hàm ý từ kết quả nghiên cứu Kết luận và những hạn chế của đề tài 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT DỊCH VỤ VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 2.1 Tổng quan về dịch vụ 2.1 Định nghĩa dịch vụ Dịch vụ đã có từ rất lâu và giữ vài trò quan trọng trong đời sống xã hội. Khi kinh tế càng phát triển, dịch vụ càng giữ vị trí quan trọng. Dịch vụ mang lại thu nhập cao và chiếm đại bộ phận trong GDP của hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển. Tỷ trọng của ngành dịch vụ trong tổng thu nhập quốc dân được xem là tiêu chí cơ bản để xếp loại giàu nghèo của một nước.
Vậy dịch vụ là gì? Dịch vụ được hiểu là rất nhiều loại hình hoạt động và nghiệp vụ thương mại khác nhau. Theo Philip Kotler, dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất. Zeithaml & Bitner (1996) đã định nghĩa dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức làm việc để tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng.
Do vậy, dịch vụ có những nét đặc trưng bên trong để phân biệt với các sản phẩm hữu hình. Parasuraman & ctg (1988) đã nhấn mạnh: kiến thức về sản phẩm hữu hình không đủ để nhận thức về đặc tính của dịch vụ, có ba đặc trưng của dịch vụ: tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời. Zeithaml & Bitner (1996) đưa ra một đặt tính nữa đó là tính dễ bị phá vỡ. Kotler & Armstrong (2004) cho rằng dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng.2 Các đặc tính của dịch vụ Về bản chất, dịch vụ là một loại sản phẩm đặc biệt, nó có bốn đặc trưng cơ bản để phân biệt với các loại sản phẩm vật chất khác.
Đó là tính vô hình, tính không tách rời, tính không đồng nhất và tính dễ bị phá vỡ. 6 ● Tính vô hình: dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất hữu hình, không nhìn thấy được. Khách hàng không thể kiểm tra dịch vụ trước khi mua, giá trị của dịch vụ thường được xác định bởi trải nghiệm thực tế của khách hàng. ● Tính không đồng nhất: Dịch vụ không ổn định, nó phụ thuộc vào người thực hiện dịch vụ, trạng thái tâm lý của họ cũng như thời gian, điạ điểm thực hiện dịch vụ.
Do đó, chất lượng dịch vụ dao động trong một khoảng rất rộng, rất khó có thể tiêu chuẩn hoá chất lượng dịch vụ. ● Tính không thể tách rời: Dịch vụ luôn gắn liền với nguồn cung ứng của nó. Việc “sản xuất” và “tiêu thụ” dịch vụ xảy ra đồng thời và người tiêu dùng trực tiếp tham gia vào quá trình cung ứng dịch vụ cho chính mình. Quyền sỡ hữu dịch vụ cũng không dược chuyển giao khi mua bán dịch vụ.
● Tính dễ bị phá vỡ: Không giống như các hàng hóa hữu hình, dịch vụ không tồn kho hay cất giữ (Kurtz & Clow, 1998). Dịch vụ sẽ thay đổi khi nhu cầu của khách hàng thay đổi. Tính dễ bị phá vỡ của dịch vụ tạo ra một cơ hội cho một tổ chức xây dựng một kế hoạch sáng tạo để tận dụng khả năng và quản lý nhu cầu trong tương lai (Zeithaml & Bitnar, 1996) 2.3 Chất lượng dịch vụ và đo lường chất lượng dịch vụ Có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, dịch vụ là dành phục vụ khách hàng, vì vậy chất lượng dịch vụ nhìn từ góc độ khách hàng được các nhà quản lý doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu rất quan tâm.
Vì dịch vụ có những thuộc tính đặc thù, và từ các nghiên cứu về chất lượng dịch vụ trong cùng một lĩnh vực hay các lĩnh vực khác nhau đã cho thấy rằng chất lượng dịch vụ theo cảm nhận là một quá trình phức tạp. Một công cụ đo lường chất lượng phổ biến nhất là SERVQUAL đã được Parasuraman & ctg đưa ra năm 1985 và được điều chỉnh năm 1988. SERVQUAL dựa trên khoảng cách giữa chất lượng dịch vụ cảm nhận (P) và chất lượng dịch vụ mong đợi (E), chất lượng dịch vụ Q được tính bằng hiệu số giữa P và E (Q= P – E). Nguyên thủy SERVQUAL (Parasuraman & ctg, 1985) 7 có 10 thành phần của chất lượng dịch vụ.
Theo đó, với bất kỳ dịch vụ nào, CLDV cảm nhận từ khách hàng bao gồm 10 thành phần sau : (1) Tin cậy: khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay từ lần đầu tiên. (2) Đáp ứng: sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ cho khách hàng. (3) Năng lực phục vụ: trình độ chuyên môn để thực hiện dịch vụ. Khả năng phục vụ biểu hiện khi nhân viên tiếp xúc với khách hàng, nhân viên trực tiếp thực hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu nắm bắt thông tin liên quan cần thiết cho việc phục vụ khách hàng.
(4) Tiếp cận: liên quan đến việc tạo mọi điều kiện dễ dàng cho khách hàng trong việc tiếp cận dịch vụ như rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng, địa điểm phục vụ và giờ mở cửa thuận lợi cho khách hàng. (5) Lịch sự: tính cách phục vụ niềm nở tôn trọng và thân thiện với khách hàng. (6) Thông tin: việc giao tiếp, thông đạt cho khách hàng bằng ngôn ngữ mà họ hiểu biết dễ dàng và lắng nghe những vấn đề liên quan đến họ như giải thích dịch vụ, chi phí, giải quyết khiếu nại, thắc mắc. (7) Tín nhiệm: khả năng tạo lòng tin cho khách hàng làm cho khách hàng tin cậy vào công ty.
Khả năng này thể hiện qua tên tuổi của công ty, tính cách nhân viên phục vụ giao tiếp trực tiếp với khách hàng. (8) An toàn: việc đảm bảo an toàn cho khách hàng thể hiện qua sự an toàn về vật chất, tài chính cũng như bảo mật thông tin. (9) Hiểu biết khách hàng: khả năng hiểu biết nhu cầu của khách hàng thông qua việc tìm hiểu những đòi hỏi của khách hàng, quan tâm đến cá nhân họ và nhận dạng được khách hàng thường xuyên. (10) Phương tiện hữu hình: thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên, các thiết bị phục vụ cho dịch vụ.
Mô hình 10 thành phần CLDV nêu trên có ưu điểm là bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ. Tuy nhiên, nhược điểm của nó là rất phức tạp trong việc đo 8 lường vì vậy sau nhiều lần kiểm định, Parasuraman & ctg, (1988) đã giảm xuống còn 5 thành phần: sự tin cậy, sự đáp ứng, sự đồng cảm, năng lực phục vụ và phương tiện hữu hình. (1) Tin cậy: liên quan đến khả năng chắc chắn thực hiện dịch vụ theo đúng cam kết với khách hàng (2) Đáp ứng: thể hiện qua sự mong muốn, khả năng sẳn sàng đáp ứng, cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng (3) Năng lực phục vụ: thể hiện qua trình độ chuyên môn và cung cách phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng (4) Đồng cảm: thể hiện sự thấu hiểu những ước muốn, quan tâm của từng khách hàng (5) Phương tiện hữu hình: liên quan đến cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng như trang phục, ngoại hình nhân viên phục vụ. Năm Thành phần này được đo lường bằng 22 biến quan sát.
● Sự tin cậy 1. Khi công ty XYZ hứa sẽ thực hiện một điều gì đó vào khoảng thời gian cụ thể, công ty sẽ thực hiện được. Khi bạn có vấn đề, công ty XYZ thể hiện sự quan tâm chân thành khi giải quyết vấn đề. Công ty XYZ thực hiện dịch vụ đúng ngay từ lần đầu tiên.
Công ty XYZ cung cấp dịch vụ đúng như thời gian họ đã hứa. Công ty XYZ lưu ý không để xảy ra một vụ sai sót nào. Công ty XYZ thông báo cho khách hàng khi nào dịch vụ sẽ được thực hiện. Nhân viên công ty XYZ phục vụ bạn nhanh chóng, đúng hạn.
Nhân viên công ty XYZ luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ bạn. Nhân viên công ty XYZ không bao giờ tỏ ra quá bận rộn đến nỗi không đáp ứng yêu cầu của bạn. 9 ● Năng lực phục vụ 10. Hành vi của nhân viên công ty XYZ ngày càng tạo sự tin tưởng đối với bạn.
Bạn cảm thấy an toàn khi thực hiện giao dịch với công ty XYZ. Nhân viên công ty XYZ luôn niềm nở, lịch sự, nhã nhặn với bạn. Nhân viên công ty XYZ có đủ hiểu biết, kiến thức để trả lời các câu hỏi của bạn ● Sự đồng cảm 14. Công ty XYZ thể hiện sự quan tâm đến cá nhân bạn.
Công ty XYZ có những nhân viên thể hiện sự quan tâm đến cá nhân bạn. Công ty XYZ thể hiện sự chú ý đặc biệt đến những quan tâm nhiều nhất của bạn. Nhân viên công ty XYZ hiểu được những nhu cầu đặc trưng, đặc biệt của bạn. Công ty XYZ làm việc vào những giờ thuận tiện.
● Phương tiện hữu hình 19. Công ty XYZ có những trang thiết bị hiện đại. Cơ sở vật chất của Công ty XYZ trông rất bắt mắt. Nhân viên của công ty XYZ ăn mặc tươm tất, gọn gàng.
Các phương tiện vật chất trong hoạt động dịch vụ (như biểu mẫu, sách ảnh, giới thiệu) của công ty XYZ có liên quan đến dịch vụ trông rất đẹp. Mô hình này với 5 khoảng cách đặc thù được minh họa trong hình 2.1 và được giải thích như sau: ● Khoảng cách 1: do sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ cảm nhận về kỳ vọng của khách hàng. ● Khoảng cách 2: là khoảng cách do nhà cung cấp dịch vụ khó khăn khi chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những tiêu chí chất lượng.