Đồ án tốt nghiệp: Thiết kế đồ họa giới thiệu sản phẩm gốm sứ Minh Long I

Đồ án tốt nghiệp giới thiệu sản phẩm gốm sứ Minh Long: Khám phá nét đẹp truyền thống, tinh hoa nghệ thuật và giá trị văn hóa Việt Nam qua gốm sứ cao cấp.

Chuyên ngành

Thiết kế đồ họa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp

2015

63
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lởi mở đầu

2. Lý do chọn đề tài (tính cấp thiết của đề tài)

3. Mục đích nghiên cứu

4. Đối tƣợng nghiên cứu

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

6. Phƣơng pháp nghiên cứu

2. PHẦN 2: NỘI DUNG

1. Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Tổng quan lịch sử của đề tài

1.2. Lịch sử đề tài nghiên cứu

1.3. Lịch sử của MINH LONG I

1.4. Đôi nét về công ty

1.5. Hiện trạng thực tế MINH LONG I

2. Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC SÁNG TÁC

2.1. Trình bày cách thức tồ chức và phƣơng thức sáng tác

2.2. Chọn đề tài và tìm tƣ liệu

2.3. Chọn lọc các phác thảo

2.4. Mô tả phƣơng pháp và kỹ thuật thiết kế

2.5. Phƣơng pháp thể hiện

2.6. Kỹ thuật thiết kế

2.7. Chất liệu thiết kế

2.8. Những hoạt động quảng cáo

2.9. Quảng cáo trên báo chí

2.10. Thƣơng hiệu MINH LONG I

2.11. Thƣơng hiệu Logo

2.12. Hệ thống Poster

2.13. Hệ thống Bao bì sản phẩm

2.14. Hệ thống Catalogue

2.15. Hệ thống Brochure

2.16. Hệ thống Ấn phẩm văn phòng

2.17. Hệ thống sản phẩm

3. Chƣơng 3: KẾT QUẢ ĐỀ TÀI

3.1. Những kết quả đạt đƣợc về mặt lý thuyết

3.2. Những kết quả sáng tạo cái mới

3.3. Đánh giá giá trị của sáng tác

3.4. Giá trị về mặt thẩm mỹ

3.5. Giá trị về mặt kinh tế

3.6. Giá trị về mặt ứng dụng

3.7. Phân tích và nêu lên những mặt tồn tại

PHẦN 3: KẾT LUẬN

PHẦN 4: TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN

1. Tài liệu tham khảo

2. Kết quả thực hiện

Tóm tắt

I. Tổng Quan Đồ Án Tốt Nghiệp Về Gốm Sứ Minh Long Giới Thiệu

Đồ án tốt nghiệp về gốm sứ Minh Long là một nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử, quy trình sản xuất, và giá trị văn hóa của sản phẩm gốm sứ Minh Long. Nghiên cứu này không chỉ dừng lại ở việc mô tả mà còn đi sâu vào phân tích thị trường gốm sứ, đối thủ cạnh tranh, và xu hướng phát triển để đề xuất các giải pháp marketing hiệu quả. Gốm sứ Việt Nam có một lịch sử lâu đời, và Minh Long là một trong những thương hiệu tiêu biểu, kết hợp truyền thống và hiện đại. Đề tài này tập trung vào việc khám phá các khía cạnh khác nhau của gốm sứ Minh Long, từ lịch sử hình thành đến ứng dụng trong đời sống. Đồ án tốt nghiệp này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của nghề thuật gốm sứ tại Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Việc nghiên cứu và giới thiệu về gốm sứ Minh Long cũng góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về mỹ thuật ứng dụngvăn hóa Việt Nam. Gốm sứ không chỉ là vật dụng hàng ngày mà còn là tác phẩm nghệ thuật gốm sứ, mang đậm dấu ấn của người Việt. Trong quá trình thực hiện, đồ án này sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích tài liệu, khảo sát thực tế, phỏng vấn chuyên gia để đảm bảo tính chính xác và khách quan. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà thiết kế, và những người yêu thích nghệ thuật gốm sứ.

1.1. Lịch Sử Hình Thành và Phát Triển của Gốm Sứ Minh Long

Nghiên cứu chi tiết quá trình hình thành và phát triển của gốm sứ Minh Long, từ những ngày đầu thành lập đến vị thế hiện tại trên thị trường. Tìm hiểu về các giai đoạn phát triển, những cột mốc quan trọng và những thay đổi trong quy trình sản xuất gốm sứ để có cái nhìn tổng quan về sự trưởng thành của thương hiệu. Việc nghiên cứu bắt đầu từ thời ông nội của ông Lý Ngọc Minh (nhà sáng lập) tính đến nay đã hơn 100 năm. Trước năm 1970 gia tộc họ Lý chỉ chuyên sản xuất đồ dùng bằng gốm với thương hiệu Thái Bình. Năm 1970, công ty mới được thành lập với thương hiệu là Minh Long, công ty bắt đầu sản xuất đồ gốm mỹ nghệ xuất khẩu đi các nước.

1.2. Vai trò của Gốm Sứ Minh Long trong Văn Hóa Việt Nam

Phân tích vai trò của gốm sứ Minh Long trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Việt Nam. Nghiên cứu cách thức mà thương hiệu này kết hợp các yếu tố truyền thống vào thiết kế gốm sứ, góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Gốm sứ Minh Long không chỉ là sản phẩm mà còn là đại diện cho nghệ thuật gốm sứ của dân tộc. Đồng thời Minh Long còn đầu tư nghiên cứu cả về phần nghệ thuật thể hiện trên sản phẩm thông qua từng kiểu dáng, họa tiết hoa văn. Những nét đẹp văn hóa, những hình ảnh quê hương mang đậm bản sắc truyền thống văn hóa của Việt Nam cũng như các nền văn hóa của các nước trên thế giới được công ty khắc họa, lồng ghép vào từng sản phẩm sao cho những thiết kế vẫn giữ được nét đặc trưng của nền văn hóa đó nhưng có phong cách hiện đại mang tầm quốc tế.

II. Phân Tích Thách Thức và Cơ Hội Của Gốm Sứ Minh Long

Đánh giá các thách thức mà gốm sứ Minh Long đang đối mặt, bao gồm cạnh tranh thị trường, biến động giá nguyên liệu, và xu hướng tiêu dùng thay đổi. Đồng thời, phân tích các cơ hội phát triển, như mở rộng thị trường xuất khẩu, phát triển sản phẩm mới, và ứng dụng công nghệ hiện đại vào quy trình sản xuất. Thách thức lớn nhất là sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt. Theo thống kê, mỗi năm, tổng doanh số toàn thị trường gốm sứ gia dụng Việt Nam đạt bình quân khoảng 5.600 tỷ đồng nhưng hàng gốm sứ gia dụng Việt chỉ chiếm 30% thị phần cả nước, trong khi 70% thị phần lại thuộc về hàng Trung Quốc.

2.1. Nghiên Cứu Thị Trường Gốm Sứ Phân Khúc Khách Hàng Mục Tiêu

Nghiên cứu phân khúc khách hàng mục tiêu của gốm sứ Minh Long, bao gồm đặc điểm nhân khẩu học, hành vi tiêu dùng, và nhu cầu. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của khách hàng và đề xuất các chiến lược marketing phù hợp. Sản phẩm rất đa dạng nên ai cũng có thể mua và sử dụng, tùy theo nhu cầu và mục đích của cá nhân. Cần nghiên cứu đối tượng tiêu dùng, sản phẩm.

2.2. Đánh Giá Đối Thủ Cạnh Tranh Phân Tích SWOT Gốm Sứ Minh Long

Phân tích đối thủ cạnh tranh của gốm sứ Minh Long, bao gồm các thương hiệu trong nước và quốc tế. Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, và thách thức (SWOT) của gốm sứ Minh Long so với đối thủ để xác định lợi thế cạnh tranh và các lĩnh vực cần cải thiện.

2.3. Xu Hướng Phát Triển Gốm Sứ Ứng Dụng Trong Đời Sống Hiện Đại

Nghiên cứu xu hướng phát triển của gốm sứ trên thế giới và tại Việt Nam. Phân tích các ứng dụng của gốm sứ trong đời sống hiện đại, từ đồ gia dụng đến trang trí nội thất. Đề xuất các ý tưởng sáng tạo để phát triển sản phẩm gốm sứ Minh Long phù hợp với xu hướng mới.

III. Giải Pháp Marketing Xây Dựng Thương Hiệu Gốm Sứ Minh Long

Đề xuất các giải pháp marketing nhằm củng cố và phát triển thương hiệu gốm sứ Minh Long. Các giải pháp bao gồm xây dựng câu chuyện thương hiệu, tối ưu hóa kênh phân phối, phát triển sản phẩm mới, và tăng cường quảng bá thương hiệu trên các kênh truyền thông. Cần có sản phẩm đáp ứng cho thị trường những sản phẩm có văn hóa, có nghệ thuật, có phong cách và có hồn. Gốm sứ Minh Long không ngừng nâng cao chất lượng, phương pháp sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại.

3.1. Xây Dựng Câu Chuyện Thương Hiệu Giá Trị Văn Hóa Gốm Sứ

Xây dựng câu chuyện thương hiệu hấp dẫn, tập trung vào giá trị văn hóalịch sử của gốm sứ Minh Long. Sử dụng các yếu tố truyền thống, kết hợp với phong cách hiện đại để tạo ra một câu chuyện độc đáo và thu hút khách hàng.Qua đó, văn hóa Việt trong từng sản phẩm sẽ được truyền bá rộng rãi hơn.

3.2. Tối Ưu Hóa Kênh Phân Phối Mở Rộng Thị Trường Xuất Khẩu

Đề xuất các giải pháp để tối ưu hóa kênh phân phối của gốm sứ Minh Long, bao gồm kênh phân phối truyền thốngkênh phân phối trực tuyến. Mở rộng thị trường xuất khẩu bằng cách tìm kiếm đối tác phân phối tiềm năng và tham gia các hội chợ triển lãm quốc tế.

3.3. Phát Triển Sản Phẩm Mới Thiết Kế Gốm Sứ Ứng Dụng

Đề xuất các ý tưởng để phát triển sản phẩm mới cho gốm sứ Minh Long, tập trung vào thiết kế gốm sứ ứng dụng trong đời sống hiện đại. Nghiên cứu các xu hướng thiết kế mới và kết hợp với các yếu tố truyền thống để tạo ra các sản phẩm độc đáo và hấp dẫn.

IV. Ứng Dụng Thực Tế Nghiên Cứu Marketing Gốm Sứ Minh Long

Thực hiện một nghiên cứu marketing thực tế để đánh giá hiệu quả của các giải pháp đã đề xuất. Nghiên cứu có thể bao gồm khảo sát khách hàng, thử nghiệm sản phẩm, hoặc phân tích dữ liệu bán hàng. Công ty đã mạnh dạn đầu tư máy móc, dây chuyền sản xuất theo công nghệ hiện đại chủ yếu của Đức và Nhật và các nước tiên tiến khác để tạo ra những sản phẩm chén dĩa, bộ đồ ăn bằng sứ chất lượng cao, được nung nhiệt độ 1380 độ C theo tiêu chuẩn của Đức.

4.1. Khảo Sát Khách Hàng Đánh Giá Mức Độ Nhận Biết Thương Hiệu

Thực hiện khảo sát khách hàng để đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu gốm sứ Minh Long, sự hài lòng của khách hàng về sản phẩm và dịch vụ, và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng. Công ty gốm sứ Minh Long luôn xem sản phẩm mình tạo thành là những đứa con do chính mình sinh ra nên tất cả đều phải được chăm sóc, học hành, thi cử.

4.2. Thử Nghiệm Sản Phẩm Mới Thu Thập Phản Hồi Từ Thị Trường

Thực hiện thử nghiệm sản phẩm mới để thu thập phản hồi từ thị trường về thiết kế, chất lượng, và giá cả. Phản hồi này sẽ giúp cải thiện sản phẩm và điều chỉnh chiến lược marketing. Tiêu chí của sản phẩm chúng tôi gồm có : 4 không và 4 có: Không thời gian, không biên giới, không giới tính, không tuổi tác, Có văn hóa, có nghệ thuật, có phong cách và có hồn.

4.3. Phân Tích Dữ Liệu Bán Hàng Đánh Giá Hiệu Quả Marketing

Phân tích dữ liệu bán hàng để đánh giá hiệu quả của các chiến dịch marketing. Dữ liệu này sẽ giúp xác định các kênh truyền thông hiệu quả, các sản phẩm bán chạy, và các phân khúc khách hàng tiềm năng. Chính vì triết lí sâu sắc ấy mà sản phẩm Minh Long làm ra ngày càng được khách hàng trong và ngoài nước yêu thích và lựa chọn.

V. Kết Luận Tương Lai Phát Triển Bền Vững Gốm Sứ Minh Long

Tổng kết các kết quả nghiên cứu và đưa ra các kết luận về tiềm năng phát triển của gốm sứ Minh Long. Đề xuất các chiến lược để phát triển bền vững thương hiệu, bao gồm đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, bảo vệ môi trường, và hỗ trợ cộng đồng. Sản phẩm Minh Long đã được tiêu thụ mạnh và xuất khẩu đi sang các nước Châu Âu như Đức, Pháp, Nhật, Hà Lan, Tiệp Khắc,… và Mỹ.

5.1. Đầu Tư Nghiên Cứu và Phát Triển Đổi Mới Quy Trình Sản Xuất

Đề xuất các giải pháp để tăng cường đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, tập trung vào đổi mới quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, và thiết kế sản phẩm mới. Minh Long còn đầu tư nghiên cứu cả về phần nghệ thuật thể hiện trên sản phẩm thông qua từng kiểu dáng, họa tiết hoa văn.

5.2. Bảo Vệ Môi Trường Sản Xuất Gốm Sứ Bền Vững

Đề xuất các giải pháp để giảm thiểu tác động đến môi trường trong quy trình sản xuất gốm sứ. Điều này có thể bao gồm sử dụng nguyên liệu tái chế, tiết kiệm năng lượng, và xử lý chất thải hiệu quả. Là một công ty đi đầu trong áp dụng khoa học kỹ thuật vào gốm sứ, có giúp cho sản phẩm gốm sứ Minh Long tiến đến một trình độ cao hơn, đẹp hơn, cạnh tranh hơn và chất lượng hơn?

5.3. Hỗ Trợ Cộng Đồng Tạo Việc Làm và Phát Triển Nghề Gốm

Đề xuất các giải pháp để hỗ trợ cộng đồng, bao gồm tạo việc làm cho người dân địa phương, hỗ trợ các làng nghề truyền thống, và đào tạo nghề cho thế hệ trẻ. Với những nghệ nhân những việc họ đã đang và sẽ làm là giữ gìn nét đẹp cổ truyền và tinh hoa của làng nghề không chỉ là niềm đam mê mà còn là bổn phận và trách nhiệm của người thợ, người con của làng gốm Bình Dương.

22/09/2025
Đồ án tót nghiệp đè tài giới thiệu sản phắám góm sứ minh longi

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho sự tiếp biến văn hóa bắc, nam về trang trí, hoa văn mỹ thuật, làm phong phú bản sắc Việt. * Gốm Việt phát triển 2000 năm sau công nguyên. - Gốm Việt thời kỳ bị xâm lƣợc. 10 thế kỷ xâm lƣợc Việt, ngƣời Hán thi hành chính sách đồng hóa ngƣời Việt, đốt bỏ thƣ tịch, hủy loại, thủ tiêu đồ đồng nhƣ trống đồng, thạp đồng.

Mã Viện đã tịch thu hầu hết trống đồng để đúc thành hai con ngựa chiến mang về Trƣờng An. Ngƣời Việt chôn giấu đồ đồng, trống đồng trong lòng đất Việt. Đồ gốm vẫn phát triển, nhƣng là đồ dân dã, đời sống sinh hoạt bình dân. Trong 10 thế kỷ Việt Nam trở thành một quận huyện bị hạn chế phát triển.

Những ngƣời giỏi, thợ thủ công giỏi đều bị đƣa đi Trƣờng An để cống nạp; gốm Việt không còn những đồ gốm cao cấp, tinh mỹ nhƣ ta đã thấy đồ gốm trong mộ Triệu Muội. Trong 10 thế kỷ ngƣời Việt bị mất nƣớc đã có hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ, nhƣng không đƣợc bền lâu và đều bị tiêu diệt. Trong cuốn Việt tuyệt thƣ viết: “ở nhà vòm, trên bờ lau. Giỏi bơi lội, ở trên cạn mà đi dƣới nƣớc.

Lấy thuyền làm ngựa, lấy bơi chèo làm roi. Họ thờ giao long làm thần. Họ biết đóng gạch và xây nhà nhƣng chỉ xây lăng mộ mà không xây nhà. Họ tôn thờ ngƣời chết.

Thân ái ngƣời sống. Họ giỏi kiếm sống nên có thể di chuyển, biến mất lúc nào tuỳ thích. Họ đến thì nhƣ gió thoảng mà đi thì không thể đuổi theo đƣợc”. “Ngƣời Hán rất 17 ngại đụng độ với họ vì sẽ gặp phải sự chống trả quyết liệt” (Nghiên cứu Việt Nam trƣớc công nguyên, NXB Thanh niên 2001).

Những đồ gốm từ sau công nguyên vùng sông Mã màu hồng nhạt hoặc trắng mốc ở sông Hồng vẫn phát triển còn đến nay, có nguồn gốc từ các ngôi mộ của ngƣời Việt. Từ các mộ thân cây khoét rỗng, đến các mộ gạch xếp có niên đại từ thời Đông Hán thế kỷ 1 – 3, Lục Triều - Đƣờng thế kỷ 6 đến 9 là các loại gạch hình chữ nhật, hình múi bƣởi có hoa văn Đông Sơn: vòng tròn đồng tâm, chữ S nằm ngang đuổi nhau, ô trám lồng, hình thoi. Hoa văn nổi ở phần rìa cạnh, trên một vùng rộng lớn từ Lĩnh Nam (Lƣỡng Quảng) và từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh. Nhiều loại hình đồ gốm nhƣ: âu, bát, bình, ấm, chậu, chân đèn, chén hai tai (nhữ bôi), cốc đốt trầm, nồi, đĩa chân đèn.

Gốm thời kỳ này nhỏ, có men mỏng, không phủ hết, mầu men vàng nhạt, trắng ngà hoặc xám nhạt. Hoa văn trang trí đơn giản, vẫn phảng phất trang trí Đông Sơn nhƣ chữ S, hình thoi, phên đan, chim nƣớc, cá, vòng tròn tiếp tuyến kiểu trống đồng. Gốm nƣớc ta thời kỳ này còn hiện diện là trong các mộ của quan lại, quý tộc việt hán. Những phong cách Đông Sơn vẫn duy trì một số kiểu dáng Việt nhƣ ở Thuỷ Nguyên, Hải Phòng.

ấm mầu hồng nhạt, vai rộng bụng phình, trên vai gắn đôi núm dọc, thân hoa văn trang trí vành hoa chấm răng lƣợc và văn chải dọc. Một chiếc ấm khác đáy có 3 chân thấp, không có trang trí, không phủ men, trên vai gắn đôi đầu trâu. Đây là hai kiểu ấm đẹp, một đôi bình tứ giác vuông, cổ thắt eo, miệng loe cao, bụng thon đều, chân đế choãi, vai bình gắn đôi núm đẹp. Những kiểu dáng của đôi ấm, đôi bình gốm thô này có phong cách rất đẹp, tƣơng tự gốm trong lăng Triệu Muội kể cả về kiểu dáng và hoa văn.

- Một vài suy nghĩ về thuật ngữ gốm Việt - Hán Trong những di chỉ khảo thế kỷ XX nƣớc ta phát hiện ngày càng nhiều khu lò gốm ở Hà Nội (Cổ Loa), Luy Lâu, Đại Lai (Bắc Ninh, Đồng Đậu, Lũng Hoà (Vĩnh Phúc), Tam Thọ (Thanh Hoá). Nhƣng trƣớc đó, chúgn ta chƣa biết gồm Việt cổ vùng Lĩnh Nam (Lƣỡng Quảng), chƣa phát hiện số đồ gốm trong mộ Nam Việt đế thế kỷ II TCN, ở một trình độ cao, hiện vật nguyên vẹn. Nếu đem so sánh những gốm phát hiện ra thời Bắc thuộc sẽ là tiếp nối trên dòng gốm Việt về kiểu dáng, 18 hoa văn. Một chiếc bình gốm đẹp, thô mịn màu hồng.

Trên thân và cán trang trí vặn thừng song song hoặc cắt nhau với vành vòng tròn hoa văn Đông Sơn, bình đƣợc tạo dáng đầu voi, vòi uốn cong vƣơn lên cao. Kiểu dáng loại bình ấm này vòi voi nhƣ vòi rót hình đầu gà, thực chất là của Việt cổ. Những kỹ thuật tiến bộ ở vài thế kỷ sau, mở rộng các hình thức trang trí, kiểu dáng có tiếp biến văn hoá, là điều lô gích trong quá trình lịch sử. Chất liệu đất sét trắng đƣợc sàng lọc kỹ.

Kỹ thuật tráng men đƣợc xuất hiện, với các vật liệu, con ngƣời bản địa, mỹ thuật truyền thống, vậy chỉ nên gọi là gốm Việt thời Bắc thuộc. Gốm Việt thời Bắc thuộc trải qua thời Đông Hán, Lục Triều, Tuỳ Đƣờng đƣợc tập trung ở thành Liên Lâu nơi trị sở Quận Giao Chỉ trong 7 thế kỷ sau đó chuyển đến thành Đại La thế kỷ VII, VIII, IV. - Gốm Việt Nam thời độc lập Gốm Việt Nam chỉ phát triển mạnh mẽ, đa dạng và vô cùng phong phú ở thời kỳ độc lập, kinh đô Hoa Lƣ (Ninh Bình) nơi ở của cƣ dân Việt cổ Mán Bạc (Ninh Bình). Khảo cổ học đã tìm đƣợc ngôi mộ với bộ xƣơng còn nguyên vẹn, niên đại ƣớc tính khoảng 3500 cách ngày nay (tính đến năm 1999).

Kinh thành Hoa Lƣ trải rộng khoảng 300 ha. Theo Việt sử lƣợc, sau chiến thắng phá Tống bình Chiêm “năm Giáp thân 984 xây điện Bát bảo thiên tuế ở núi Hoả vân cột bọc vàng, xây điện Phong Lƣu, điện Bồng Lai, điện Cực Lạc, lầu Hoả Vân, điện Trƣờng Xuân. Bên cạnh đó là điện Long Lộc lợp ngói bạc”. Tại Hoa Lƣ các nghề thủ công kim hoàn, đồ da, đặc biệt là đồ gốm có một bƣớc phát triển lớn.

Năm 1978 phát hiện nhiều khu vực kiến trúc, sàn nền gốm gạch hoa sen, hoa phƣợng kích thƣớc lớn, nhiều mảnh ngói ống, loại gạch gốm kích thƣớc lớn 74cm x 47cm nổi hoa sen tám cánh, ngói mũi sen, phù điêu đầu thú. kiến trúc xây dựng đã phát triển tới 9 nền móng cung điện ở độ sâu 1,15m. Dấu vết một kiến trúc đổ nát, mảnh gốm, ngói vỡ ken dầy tới 40cm, có dấu vết tƣờng gạch, lò gốm rộng hàng trăm mét vuông. Gốm men trắng chau chuốt, gốm men ngọc đã phát hiện ở Hoa Lƣ.

Từ kinh đô Hoa Lƣ, gốm có một vai trò lớn, khởi đầu cho một nền tảng mỹ thuật gốm Việt. Gốm xuất hiện từ gạch xây thành (Đại Việt quốc quân thành chuyên, gốm xây dựng cung điện, trang trí gạch hoa, ngói, các tƣợng uyên 19 ƣơng, sƣ tử, ngói, ống, mô hình tháp. đã hình thành các dòng gốm ở thời Lý Trần. Nhiều hình thức gốm ở Hoa Lƣ đã đƣợc phát hiện ở kinh đô Thăng Long thời Lý Trần, từ trang trí cung điện đến gạch hoa lát nền.

- Gốm Việt từ thế kỷ X đến XIV thời Lý Trần Khi Lý Công Uẩn chuyển kinh đô về Đại La, đổi tên là thành Thăng Long. Nơi đây trở thành trung tâm đô hội bốn phƣơng. Kinh thành đƣợc kiến tạo, mở rộng đại quy mô. Hàng trăm cung điện, đền chùa, lầu các, dinh thự lộng lẫy, có sự đóng góp của gốm vô cùng phong phú, về các thể loại trang trí, đồ dùng gốm màu.

Đồ gốm cao cấp dùng trong cung đình, nhƣ thời Văn đế ở mức độ cao. Gốm rất phát triển vì phục vụ từ tầng lớp quý tộc đến dân gian, hình thành nhiều dòng gốm men phong phú, trang trí hoa văn, mỹ thuật cao nhƣ: gốm men trắng ngà, gốm men ngọc, gốm xanh lục, gốm hoa nâu, gốm men nâu, đặc biệt cuối thế kỷ XIV, xuất hiện gốm men hoa lam. - Gốm men trắng ngà đƣợc dùng phổ biến ở ấm bát, bình chén, đĩa hũ, liễn, dùng trong trang trí, gách tháp men trắng khắc nổi hình vũ nữ. Men trắng thời Lý óng mƣợt, trắng mịn.

- Gốm men ngọc xuất hiện nhƣ là một dấu ấn đặc biệt thời Lý. Men ngọc trong, bóng, xƣơng gốm mịn, nhiều hoạ tiết chìm nổi (án hoạ) đƣợc phủ men ngọc dầy, tạo nên nhiều sắc độ long lanh. Tạo dáng nhiều là hoa sen, cánh sen, đĩa hình lá sen, bình các loại quả bí, quả dƣa, quả bầu, quả bƣởi. vòi ấm, bình rất phong phú; hình đầu rồng, chim vẹt, có loại ấm hình tỳ bà (củ hành).

Gốm thời Lý mang đậm dấu ấn Phật giáo, với đề tài hoa sen thấy ở nhiều loại hình gốm sang tới thời Trần. Những đồ gốm phát hiện ở Hoàng Thành đã hiện diện đầy đủ nhất. - Gốm men xanh lục thẫm tìm thấy ở Hoàng Thành, điển hình là nắp hộp A9MR tròn đƣờng kính 18,5cm có hình thức trang trí đặc sắc, mĩ lệ. Trang trí một hình rồng lớn, uốn lƣợn từ to đến nhỏ vút dần 18 khúc (kiểu thắt túi), phụ hoạ là các dải mây, hai đƣờng tròn tiếp tuyến bao quanh, vòng ngoài là trang trí nổi hình sóng nở hoa đuổi nhau trang trí đƣờng diềm, làm nổi bật rồng vờn ngọc ở giữa tâm.

Đƣờng tiếp tuyến ký phía ngoài là những chấm tròn nổi làm cho bố cục trang 20 trí nắp hộp rất khéo léo, hài hoà. Men xanh lục phủ lên hình khối trang trí ở độ nông khác nhau theo đậm nhạt sắc men ánh lên sinh động, quyến rũ. Dòng men xanh lục đƣợc biến hoá đậm nhạt, màu ngả vàng hoặc biếc xanh nhƣ ngọc rất độc đáo. - Gốm men hoa nâu, dòng gốm này phổ biến ở thời Trần có loại nhƣ men nâu vàng hoa văn trắng, hoặc nền men ngà hoa văn nâu; có loại men nâu, khắc hoa văn chìm để mộc.

Những sản phẩm gốm thời Trần đa dạng, phong phú và nhiều loại thống, thạp to hơn thời Lý. Thạp hoa trắng nền nâu hoặc ngƣợc lại. Vẫn các đề tài hoa sen, sóng nƣớc, cánh hoa to với chim mỏ dài, chân cao, hình võ sỹ đấu khiên, hình voi. Các loại tạo hình đầu tƣợng gốm hình vũ nữ, tƣợng đầu phật, các phù điêu nổi trên gạch men.

Gốm men hoa nâu phát triển đặc biệt ở thời Trần với bố cục hoa văn, chim to, đƣợc cách điệu hình đơn giản, mộc mạc, hơi thô, hình khối khoẻ, bố cục đa dạng đẹp. - Dòng gốm men lam. Men hoa lam đã phát hiện sớm vào cuối thời Trần. Khảo cổ học đã tìm đƣợc ở Hoàng Thành, trong các hố khai quật bát đĩa vẽ cành hoa cúc màu nâu gỉ sắt và xanh lam cô ban.

Thời điểm này gốm men hoa lam đã xuất hiện ở thời Nguyên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ