mở đầu cho sự tiếp biến văn hóa bắc, nam về trang trí, hoa văn mỹ thuật, làm phong phú bản sắc Việt. * Gốm Việt phát triển 2000 năm sau công nguyên. - Gốm Việt thời kỳ bị xâm lƣợc. 10 thế kỷ xâm lƣợc Việt, ngƣời Hán thi hành chính sách đồng hóa ngƣời Việt, đốt bỏ thƣ tịch, hủy loại, thủ tiêu đồ đồng nhƣ trống đồng, thạp đồng.
Mã Viện đã tịch thu hầu hết trống đồng để đúc thành hai con ngựa chiến mang về Trƣờng An. Ngƣời Việt chôn giấu đồ đồng, trống đồng trong lòng đất Việt. Đồ gốm vẫn phát triển, nhƣng là đồ dân dã, đời sống sinh hoạt bình dân. Trong 10 thế kỷ Việt Nam trở thành một quận huyện bị hạn chế phát triển.
Những ngƣời giỏi, thợ thủ công giỏi đều bị đƣa đi Trƣờng An để cống nạp; gốm Việt không còn những đồ gốm cao cấp, tinh mỹ nhƣ ta đã thấy đồ gốm trong mộ Triệu Muội. Trong 10 thế kỷ ngƣời Việt bị mất nƣớc đã có hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ, nhƣng không đƣợc bền lâu và đều bị tiêu diệt. Trong cuốn Việt tuyệt thƣ viết: “ở nhà vòm, trên bờ lau. Giỏi bơi lội, ở trên cạn mà đi dƣới nƣớc.
Lấy thuyền làm ngựa, lấy bơi chèo làm roi. Họ thờ giao long làm thần. Họ biết đóng gạch và xây nhà nhƣng chỉ xây lăng mộ mà không xây nhà. Họ tôn thờ ngƣời chết.
Thân ái ngƣời sống. Họ giỏi kiếm sống nên có thể di chuyển, biến mất lúc nào tuỳ thích. Họ đến thì nhƣ gió thoảng mà đi thì không thể đuổi theo đƣợc”. “Ngƣời Hán rất 17 ngại đụng độ với họ vì sẽ gặp phải sự chống trả quyết liệt” (Nghiên cứu Việt Nam trƣớc công nguyên, NXB Thanh niên 2001).
Những đồ gốm từ sau công nguyên vùng sông Mã màu hồng nhạt hoặc trắng mốc ở sông Hồng vẫn phát triển còn đến nay, có nguồn gốc từ các ngôi mộ của ngƣời Việt. Từ các mộ thân cây khoét rỗng, đến các mộ gạch xếp có niên đại từ thời Đông Hán thế kỷ 1 – 3, Lục Triều - Đƣờng thế kỷ 6 đến 9 là các loại gạch hình chữ nhật, hình múi bƣởi có hoa văn Đông Sơn: vòng tròn đồng tâm, chữ S nằm ngang đuổi nhau, ô trám lồng, hình thoi. Hoa văn nổi ở phần rìa cạnh, trên một vùng rộng lớn từ Lĩnh Nam (Lƣỡng Quảng) và từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh. Nhiều loại hình đồ gốm nhƣ: âu, bát, bình, ấm, chậu, chân đèn, chén hai tai (nhữ bôi), cốc đốt trầm, nồi, đĩa chân đèn.
Gốm thời kỳ này nhỏ, có men mỏng, không phủ hết, mầu men vàng nhạt, trắng ngà hoặc xám nhạt. Hoa văn trang trí đơn giản, vẫn phảng phất trang trí Đông Sơn nhƣ chữ S, hình thoi, phên đan, chim nƣớc, cá, vòng tròn tiếp tuyến kiểu trống đồng. Gốm nƣớc ta thời kỳ này còn hiện diện là trong các mộ của quan lại, quý tộc việt hán. Những phong cách Đông Sơn vẫn duy trì một số kiểu dáng Việt nhƣ ở Thuỷ Nguyên, Hải Phòng.
ấm mầu hồng nhạt, vai rộng bụng phình, trên vai gắn đôi núm dọc, thân hoa văn trang trí vành hoa chấm răng lƣợc và văn chải dọc. Một chiếc ấm khác đáy có 3 chân thấp, không có trang trí, không phủ men, trên vai gắn đôi đầu trâu. Đây là hai kiểu ấm đẹp, một đôi bình tứ giác vuông, cổ thắt eo, miệng loe cao, bụng thon đều, chân đế choãi, vai bình gắn đôi núm đẹp. Những kiểu dáng của đôi ấm, đôi bình gốm thô này có phong cách rất đẹp, tƣơng tự gốm trong lăng Triệu Muội kể cả về kiểu dáng và hoa văn.
- Một vài suy nghĩ về thuật ngữ gốm Việt - Hán Trong những di chỉ khảo thế kỷ XX nƣớc ta phát hiện ngày càng nhiều khu lò gốm ở Hà Nội (Cổ Loa), Luy Lâu, Đại Lai (Bắc Ninh, Đồng Đậu, Lũng Hoà (Vĩnh Phúc), Tam Thọ (Thanh Hoá). Nhƣng trƣớc đó, chúgn ta chƣa biết gồm Việt cổ vùng Lĩnh Nam (Lƣỡng Quảng), chƣa phát hiện số đồ gốm trong mộ Nam Việt đế thế kỷ II TCN, ở một trình độ cao, hiện vật nguyên vẹn. Nếu đem so sánh những gốm phát hiện ra thời Bắc thuộc sẽ là tiếp nối trên dòng gốm Việt về kiểu dáng, 18 hoa văn. Một chiếc bình gốm đẹp, thô mịn màu hồng.
Trên thân và cán trang trí vặn thừng song song hoặc cắt nhau với vành vòng tròn hoa văn Đông Sơn, bình đƣợc tạo dáng đầu voi, vòi uốn cong vƣơn lên cao. Kiểu dáng loại bình ấm này vòi voi nhƣ vòi rót hình đầu gà, thực chất là của Việt cổ. Những kỹ thuật tiến bộ ở vài thế kỷ sau, mở rộng các hình thức trang trí, kiểu dáng có tiếp biến văn hoá, là điều lô gích trong quá trình lịch sử. Chất liệu đất sét trắng đƣợc sàng lọc kỹ.
Kỹ thuật tráng men đƣợc xuất hiện, với các vật liệu, con ngƣời bản địa, mỹ thuật truyền thống, vậy chỉ nên gọi là gốm Việt thời Bắc thuộc. Gốm Việt thời Bắc thuộc trải qua thời Đông Hán, Lục Triều, Tuỳ Đƣờng đƣợc tập trung ở thành Liên Lâu nơi trị sở Quận Giao Chỉ trong 7 thế kỷ sau đó chuyển đến thành Đại La thế kỷ VII, VIII, IV. - Gốm Việt Nam thời độc lập Gốm Việt Nam chỉ phát triển mạnh mẽ, đa dạng và vô cùng phong phú ở thời kỳ độc lập, kinh đô Hoa Lƣ (Ninh Bình) nơi ở của cƣ dân Việt cổ Mán Bạc (Ninh Bình). Khảo cổ học đã tìm đƣợc ngôi mộ với bộ xƣơng còn nguyên vẹn, niên đại ƣớc tính khoảng 3500 cách ngày nay (tính đến năm 1999).
Kinh thành Hoa Lƣ trải rộng khoảng 300 ha. Theo Việt sử lƣợc, sau chiến thắng phá Tống bình Chiêm “năm Giáp thân 984 xây điện Bát bảo thiên tuế ở núi Hoả vân cột bọc vàng, xây điện Phong Lƣu, điện Bồng Lai, điện Cực Lạc, lầu Hoả Vân, điện Trƣờng Xuân. Bên cạnh đó là điện Long Lộc lợp ngói bạc”. Tại Hoa Lƣ các nghề thủ công kim hoàn, đồ da, đặc biệt là đồ gốm có một bƣớc phát triển lớn.
Năm 1978 phát hiện nhiều khu vực kiến trúc, sàn nền gốm gạch hoa sen, hoa phƣợng kích thƣớc lớn, nhiều mảnh ngói ống, loại gạch gốm kích thƣớc lớn 74cm x 47cm nổi hoa sen tám cánh, ngói mũi sen, phù điêu đầu thú. kiến trúc xây dựng đã phát triển tới 9 nền móng cung điện ở độ sâu 1,15m. Dấu vết một kiến trúc đổ nát, mảnh gốm, ngói vỡ ken dầy tới 40cm, có dấu vết tƣờng gạch, lò gốm rộng hàng trăm mét vuông. Gốm men trắng chau chuốt, gốm men ngọc đã phát hiện ở Hoa Lƣ.
Từ kinh đô Hoa Lƣ, gốm có một vai trò lớn, khởi đầu cho một nền tảng mỹ thuật gốm Việt. Gốm xuất hiện từ gạch xây thành (Đại Việt quốc quân thành chuyên, gốm xây dựng cung điện, trang trí gạch hoa, ngói, các tƣợng uyên 19 ƣơng, sƣ tử, ngói, ống, mô hình tháp. đã hình thành các dòng gốm ở thời Lý Trần. Nhiều hình thức gốm ở Hoa Lƣ đã đƣợc phát hiện ở kinh đô Thăng Long thời Lý Trần, từ trang trí cung điện đến gạch hoa lát nền.
- Gốm Việt từ thế kỷ X đến XIV thời Lý Trần Khi Lý Công Uẩn chuyển kinh đô về Đại La, đổi tên là thành Thăng Long. Nơi đây trở thành trung tâm đô hội bốn phƣơng. Kinh thành đƣợc kiến tạo, mở rộng đại quy mô. Hàng trăm cung điện, đền chùa, lầu các, dinh thự lộng lẫy, có sự đóng góp của gốm vô cùng phong phú, về các thể loại trang trí, đồ dùng gốm màu.
Đồ gốm cao cấp dùng trong cung đình, nhƣ thời Văn đế ở mức độ cao. Gốm rất phát triển vì phục vụ từ tầng lớp quý tộc đến dân gian, hình thành nhiều dòng gốm men phong phú, trang trí hoa văn, mỹ thuật cao nhƣ: gốm men trắng ngà, gốm men ngọc, gốm xanh lục, gốm hoa nâu, gốm men nâu, đặc biệt cuối thế kỷ XIV, xuất hiện gốm men hoa lam. - Gốm men trắng ngà đƣợc dùng phổ biến ở ấm bát, bình chén, đĩa hũ, liễn, dùng trong trang trí, gách tháp men trắng khắc nổi hình vũ nữ. Men trắng thời Lý óng mƣợt, trắng mịn.
- Gốm men ngọc xuất hiện nhƣ là một dấu ấn đặc biệt thời Lý. Men ngọc trong, bóng, xƣơng gốm mịn, nhiều hoạ tiết chìm nổi (án hoạ) đƣợc phủ men ngọc dầy, tạo nên nhiều sắc độ long lanh. Tạo dáng nhiều là hoa sen, cánh sen, đĩa hình lá sen, bình các loại quả bí, quả dƣa, quả bầu, quả bƣởi. vòi ấm, bình rất phong phú; hình đầu rồng, chim vẹt, có loại ấm hình tỳ bà (củ hành).
Gốm thời Lý mang đậm dấu ấn Phật giáo, với đề tài hoa sen thấy ở nhiều loại hình gốm sang tới thời Trần. Những đồ gốm phát hiện ở Hoàng Thành đã hiện diện đầy đủ nhất. - Gốm men xanh lục thẫm tìm thấy ở Hoàng Thành, điển hình là nắp hộp A9MR tròn đƣờng kính 18,5cm có hình thức trang trí đặc sắc, mĩ lệ. Trang trí một hình rồng lớn, uốn lƣợn từ to đến nhỏ vút dần 18 khúc (kiểu thắt túi), phụ hoạ là các dải mây, hai đƣờng tròn tiếp tuyến bao quanh, vòng ngoài là trang trí nổi hình sóng nở hoa đuổi nhau trang trí đƣờng diềm, làm nổi bật rồng vờn ngọc ở giữa tâm.
Đƣờng tiếp tuyến ký phía ngoài là những chấm tròn nổi làm cho bố cục trang 20 trí nắp hộp rất khéo léo, hài hoà. Men xanh lục phủ lên hình khối trang trí ở độ nông khác nhau theo đậm nhạt sắc men ánh lên sinh động, quyến rũ. Dòng men xanh lục đƣợc biến hoá đậm nhạt, màu ngả vàng hoặc biếc xanh nhƣ ngọc rất độc đáo. - Gốm men hoa nâu, dòng gốm này phổ biến ở thời Trần có loại nhƣ men nâu vàng hoa văn trắng, hoặc nền men ngà hoa văn nâu; có loại men nâu, khắc hoa văn chìm để mộc.
Những sản phẩm gốm thời Trần đa dạng, phong phú và nhiều loại thống, thạp to hơn thời Lý. Thạp hoa trắng nền nâu hoặc ngƣợc lại. Vẫn các đề tài hoa sen, sóng nƣớc, cánh hoa to với chim mỏ dài, chân cao, hình võ sỹ đấu khiên, hình voi. Các loại tạo hình đầu tƣợng gốm hình vũ nữ, tƣợng đầu phật, các phù điêu nổi trên gạch men.
Gốm men hoa nâu phát triển đặc biệt ở thời Trần với bố cục hoa văn, chim to, đƣợc cách điệu hình đơn giản, mộc mạc, hơi thô, hình khối khoẻ, bố cục đa dạng đẹp. - Dòng gốm men lam. Men hoa lam đã phát hiện sớm vào cuối thời Trần. Khảo cổ học đã tìm đƣợc ở Hoàng Thành, trong các hố khai quật bát đĩa vẽ cành hoa cúc màu nâu gỉ sắt và xanh lam cô ban.
Thời điểm này gốm men hoa lam đã xuất hiện ở thời Nguyên.