Chương 1: Tổng quan về đề tài. Chương 2: Tổng quan mô hình quản lý nhà trường. Chương 3: Tổng quan chung về phần mềm quản lý CSDL Chương 4: Sử dụng các tính năng của phần mềm. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1.
Hệ thống thông tin quản lý.1 Khái niệm về hệ thống thông tin. Hệ thống là một tập hợp có tổ chức của nhiều phần tử. Ví dụ 1: Hệ mặt trời , hệ triết học. Phần tử là những thành phần hợp thành hệ thống tổng thể.
Như vậy phần tử rất đa dạng thậm chí rất khác nhau. Ví dụ 2: Người, thiết bị đều là những phần tử Một phần tử có thể đơn giản hoặc phức tạp. Đặc biệt bản thân một phần tử có thể là một hệ thống con. Do vậy các hệ thống thường có tính phân cấp.
Ví dụ 3 : Thế giới - Quốc gia - Tỉnh/Thành phố - Thị xã - Huyện. - Tính tổ chức của hệ thống có nghĩa là trong hệ thống tồn tại một tập hợp các mối ràng buộc. Ví dụ 4: Hệ thống hành chính thì mối ràng buộc là sự phân quyền các quan hệ về đoàn thể, các quan hệ về nhân sự. Các quan hệ đó có thể là ổn định lâu dài hoặc là các quan hệ tạm thời.
Khi chúng ta quan tâm đến một hệ thống là chúng ta quan tâm đến các quan hệ ổn định lâu dài.Tuy nhiên các quan hệ tạm thời không phải là không quan trọng. Khi chúng ta nói đến tính ổn định của hệ thống thì điều này không có nghĩa là hệ thống bất biến. Tính biến động của hệ thống thể hiện ở hai mặt sau: - Sự tiến triển : Các phần tử của một hệ thống bao gồm chính nó và các quan hệ của nó có thể phát sinh tăng trưởng suy thoái hoặc biến mất. - Sự hoạt động : Các thành phần cả hệ thống cùng cộng tác với nhau nhằm thực hiện một mục đích chung của hệ thống.
Thường những hệ thống biến động là những hệ thống hướng đích. Điều này thể hiện ở chỗ hệ thống nhận những cái vào và biến đổi ở những cái ra. - Hệ thống kinh doanh và hệ thống dịch vụ : là những hệ thống của con người nhằm mục đích kinh doanh, dịch vụ. - Các hệ thống con của hệ thống kinh doanh, dịch vụ bao gồm ba hệ thống con : 6 + Hệ thống nghiệp vụ: Bao gồm người, phương tiện, phương pháp trực tiếp tham gia quá trình biến đổi luồng vào thành luồng ra.
+ Hệ thống quyết định: Bao gồm người, phương tiện, phương pháp tham gia vào việc đề xuất các quyết định. + Hệ thống thông tin: Bao gồm người, phương tiện, phương pháp tham gia vào quá trình xử lý thông tin. Các công việc xử lý thường là thu nhập, kiểm tra, lưu trữ, tìm kiếm, loại bỏ các thông tin, truyền đạt các thông tin. Đây chính cũng là các vấn đề mà chúng ta cần quan tâm.
Vai trò và nhiệm vụ của hệ thống thông tin : Hệ thống thông tin đóng vai trò trung gian giữa bên trong và bên ngoài hệ thống và giữa các hệ thống con. Sơ đồ của hệ thống thông tin. Hệ thống Thông tin vào thông tin Thông tin ra Hệ thống nghiệp vụ Nhiệm vụ của một hệ thống thông tin : nhằm thu thập, lưu trữ, kiểm tra kết xuất, truyền đạt thông tin. Phân loại thông tin: Có hai loại thông tin(về mặt hình thức): + Thông tin tự nhiên: là những thông tin mà vẫn giữ nguyên giá trị và hình thức như khi đưa thông tin ra.
Ví dụ 1 : Tiếng nói, hình ảnh. + Thông tin có cấu trúc : là các thông tin đã được lượng tử hoá chứ không còn giữ nguyên hình thức như khi nó mới phát sinh. Nó được gán cho cấu trúc. Ví dụ 2: Các file, các loại sổ sách.
7 Có những bộ phận chuyên xử lý các thông tin tự nhiên và có các bộ phận chuyên xử lý các thông tin có cấu trúc. Các bộ phận hợp thành của hệ thống thông tin Các sự kiện ,các dữ liệu khách quan không thay đổi được Các dữ liệu phản ánh cấu trúc của cơ quan Dữ liệu Các xử lý: vào cho -Các quy tắc xử lý Kết quả ra Tham số các xử lý -Các quy trình,chương trình -Các lưu đồ xử lý Các dữ liệu phản ánh hoạt động của cơ quan Các sự kiện hoạt động Các bộ phận hợp thành của một hệ thống thông tin bao gồm hai bộ phận cơ bản: - Các dữ liệu: bao gồm tất cả các dữ liệu về thông tin, nhưng các thông tin có cấu trúc được chú ý nhiều hơn. Khối dữ liệu nằm trong sổ sách, các tệp trong máy tính, các chứng từ tài liệu. - Các thông tin xử lý: là những quá trình để xử lý thông tin.
Các xử lý nằm trong các quy định, quy trình, công thức, các quy trình tự động, thủ công. Các hệ thống thông tin có thể tự động hoá một phần hoặc hoàn toàn. Cơ sở dữ liệu 2. Định nghĩa về cơ sở dữ liệu: Cơ sở dữ liệu là tập hợp thông tin có cấu trúc miêu tả về một đối tượng quản lý đáp ứng yêu cầu người dùng và thoả mãn các yêu cầu sau: - Cơ sở là một bộ sưu tập các dữ liệu các tác nghiệp được lưu giữ lại và được các hệ ứng dụng của một cơ quan nào đó sử dụng.
- Hệ quản trị cơ sở dữ liệu là phần chương trình có thể xử lý thay đổi dữ liệu của một cơ sở dữ liệu. Các chức năng của một hệ quản trị cơ sở dữ liệu: - Cho khả năng lưu trữ dữ liệu lâu dài. - Khả năng truy nhập một số lượng lớn dữ liệu một cách có hiệu quả. - Được xây dựng trên một mô hình dữ liệu qua đó người sử dụng có thể quan sát dữ liệu.
- Có một ngôn ngữ cấy cao để định nghĩa và thao tác dữ liệu. - Có thể đồng bộ các truy nhập cạnh tranh khi nhiều người cùng sử dụng cơ sở dữ liệu. - Khả năng kiểm tra truy nhập. - Khả năng phục hồi dữ liệu khi có sự cố xảy ra.
Thực thể và liên kết giữa các thực thể - Thực thể là một vật có thể tồn tại và có thể phân biệt được. Ví dụ 1: Người , động vật. - Một nhóm các thực thể giống nhau gọi là các thực thể giống nhau. Ví dụ 2: Các nhân sự - Mọi thành viên của tập hợp các thực thể được biểu diễn bởi một tập các đặc điểm gọi là tập các thuộc tính.
Ví dụ 3: Tập thực thể chiến sỹ được đặc trưng bởi: + Họ và tên + Tuổi + Mã cán bộ 9 - Quan hệ giữa các tập thực thể là một danh sách có thứ tự của một tập thực thể. Ví dụ 4: Quan hệ giữa R với hai tập (x) (y) viết: xRy - Quan hệ giữa các thực thể cũng là một thực thể. 10 CHƯƠNG II. TỔNG QUAN MÔ HÌNH QUẢN LÝ NHÀ TRƯỜNG 1.
Nghiên cứu mô hình quản lý học và dạy trong nhà trường.1 Tổng quan về mô hình quản lý học và dạy. Trong một nhà trường, việc “học” của học sinh không thể tách rời việc “dạy” của giáo viên. “Học” và “dạy” là hai công việc được tiến hành thường xuyên và đều đặn nhất trong suốt quá trình “sống” của một nhà trường. Không nên và không thể tách rời các công việc trên.
Không nên tách làm các chương trình nhỏ riêng biệt, ví dụ quản lý Điểm Học sinh, quản lý nhân sự Giáo viên, quản lý nhân sự Học sinh,. Những chương trình nhỏ như vậy có thể dễ dàng thiết kế và cài đặt, tuy nhiên chúng có thể tạo ra các rào cản cho việc tạo ra một mô hình quản lý thống nhất “học” và “dạy” trong một nhà trường. Đối với người quản lý nhà trường (chẳng hạn Hiệu trưởng), rõ ràng toàn bộ hoạt động của trường đều xoay xung quanh 2 đối tượng chính là “Học sinh” và “Giáo viên”, và động tác chính của các đối tượng này là “học” và “dạy”. Như vậy ngay từ đầu chúng ta có thể thấy mô hình bắt buộc và tối thiểu phải quản lý của một nhà trường được mô tả trong sơ đồ sau đây: Hình 1: Mô hình lõi của dạy và học 11 Tất cả chúng ta đều phải thống nhất với quan điểm là để quản lý việc “học” và “dạy” trong nhà trường, đơn vị quản lý trực tiếp, quan trọng nhất phải là “nhà trường”.
Không có một cấp quản lý nào khác có thể trực tiếp, sâu sát, thực tế với từng học sinh, từng giáo viên, từng tiết học như nhà trường. Hay nói một cách khác mô hình quản lý việc “học” và “dạy” phải nhằm vào đối tượng chính nhất là Nhà trường, hay cụ thể hơn là Hiệu trưởng và Ban Giám hiệu nhà trường. Như vậy đầu tiên và trước hết, mô hình quản lý “học” và “dạy” trong nhà trường phải được thiết kế dành cho Hiệu trưởng và Ban giám hiệu, những người đang trực tiếp quản lý hàng ngàn học sinh, hàng trăm giáo viên trong phạm vi trường của mình.2 Mối liên hệ đối tượng Giáo viên và học sinh: Từ hình 1 với mô hình lõi, chúng ta đã thấy 2 đối tượng chính cần phải quản lý là Học sinh và Giáo viên. Quan hệ trực tiếp giữa Học sinh và Giáo viên thông qua các Môn học mà học sinh phải “học” và giáo viên phải “dạy”.
Việc phân công việc cụ thể được thể hiện bằng Thời khóa biểu mô tả rằng giáo viên sẽ dạy môn học gì tại Lớp học cụ thể nào. Kết quả việc học tập của học sinh và dạy của giáo viên thể hiện bởi các giá trị Điểm. Như vậy, Điểm là một trong các yếu tố quan trọng nhất của mô hình quản lý của chúng ta. Hiện tại chúng ta chưa có một phương thức đánh giá nào khác ngoài Điểm, do vậy trong một thời gian khá dài trước mắt, Điểm vẫn là một đại lượng quản lý quan trọng.
Mô hình các đối tượng quản lý cơ bản của phần mềm được mô tả trong hình sau: 12 Hình 2: Các đối tượng quản lý cơ bản trong nhà trường 1.3 Mối liên hệ giữa phụ huynh học sinh với nhà trường. Ban đại diện cha mẹ học sinh là tổ chức do cha mẹ cử ra để phối hợp với nhà trường trong việc giáo dục con em minh. Là đại diện cho cha mẹ học sinh ban đó có trách nhiệm phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cha mẹ học sinh, mà cốt yếu là quyền và lợi ích của con em, bảo đảm cho con em được hưởng một nền giáo dục có chất lượng, trung thực và lành mạnh.