Đồ án: Cấu trúc địa chất và tìm kiếm quặng titan tại An Hải, Ninh Thuận

Đồ án tốt nghiệp phân tích chi tiết cấu trúc địa chất vùng An Hải. Thiết kế phương án tìm kiếm và đánh giá tiềm năng quặng titan sa khoáng Ninh Thuận.

Trường đại học

Đại học Mỏ - Địa chất

Chuyên ngành

Tìm kiếm - Thăm dò

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp

2008

77
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Đồ án Tìm kiếm Quặng Titan sa Khoáng tại Ninh Thuận

Đồ án tốt nghiệp này được thực hiện nhằm vận dụng kiến thức lý thuyết địa chất vào thực tế tại vùng An Hải - Ninh Thuận. Đồ án được tiến hành trong 6 tuần tại Liên đoàn Địa chất Trung Trung Bộ, với mục đích nghiên cứu cấu trúc địa chất vùng và thiết kế phương án tìm kiếm quặng titan sa khoáng ven biển. Nội dung gồm hai phần chính: Phần I tập trung vào đặc điểm địa chất vùng An Hải, bao gồm địa lý tự nhiên, kinh tế nhân văn và lịch sử nghiên cứu. Phần II trình bày thiết kế phương án tìm kiếm quặng titan tại khu vực Từ Thiện, với chi tiết về mục đích, phương pháp áp dụng, tính toán tài nguyên và dự toán chi phí. Đây là một công trình nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực địa chất khoáng sản tại Ninh Thuận.

1.1. Mục đích và ý nghĩa của đồ án

Đồ án nhằm áp dụng những kiến thức địa chất lý thuyết vào thực tế, đặc biệt là trong lĩnh vực tìm kiếm và thăm dò khoáng sản. Ý nghĩa chính là thiết kế phương án tìm kiếm quặng titan sa khoáng có giá trị kinh tế cao tại vùng ven biển Ninh Thuận. Nghiên cứu này góp phần phát triển công nghiệp khoáng sản khu vực, cung cấp dữ liệu khoa học cho hoạch định chính sách phát triển địa phương.

1.2. Phạm vi và thời gian thực hiện

Vùng nghiên cứu bao gồm các xã An Hải, Phước Dinh thuộc huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, với diện tích khoảng 139 km². Toạ độ địa lý từ 11°24'18" - 11°30'30" vĩ độ Bắc, 108°55'46" - 109°01'10" kinh độ Đông. Thời gian thực tập từ 01/01/2008 đến 23/02/2008 (6 tuần), với thực địa tập trung tại khu vực Từ Thiện ven biển.

II. Đặc Điểm Địa Lý Tự Nhiên Vùng An Hải

Vùng An Hải được giới hạn tại huyện Ninh Phước, cách thị xã Phan Rang-Tháp Chàm khoảng 12km theo hướng tỉnh lộ 407. Địa hình vùng rất đa dạng, từ đồi núi thấp phía tây nam đến đồng bằng ven biển phía đông. Độ cao tuyệt đối dao động từ vài mét đến 380m. Bờ biển kéo dài theo hướng bắc-nam khoảng 18km, tạo điều kiện thuận lợi cho tích tụ sa khoáng. Mạng sông suối khá phong phú với sông Cái là dòng sông chính, bắt nguồn từ khối nâng Đà Lạt, cùng các suối nhỏ như Sông Bàu NgưSuối Tam Lang. Bường lớp thực vật chủ yếu là cây thân gỗ thấp, cây có gai cứng. Các yếu tố địa lý này tạo nên môi trường địa chất phù hợp cho tìm kiếm quặng titan.

2.1. Địa hình và địa chất vùng

Địa hình vùng An Hải bao gồm hai phần chính: phần đồi núi thấp ở tây nam với độ cao 100-380m, sườn dốc, đỉnh nhọn; phần đồng bằng ven biển chiếm phần lớn, được tạo thành bởi trầm tích bở rời. Địa hình phân cắt mạnh, tạo điều kiện cho tích tụ vật liệu sa khoáng từ thượng lưu xuống.

2.2. Mạng thủy văn và bờ biển

Mạng sông suối trong vùng khá phong phú với sông Cái bắt nguồn từ Đà Lạt. Các bàu như Bàu Ngư, Bàu Sơn Hải tạo nên hệ thống thủy văn đa dạng. Bờ biển kéo dài 18km chịu tác động thuỷ triều mạnh, tạo điều kiện tích tụ sa khoáng titan sa từ nguồn từ sông.

III. Thiết Kế Phương Án Tìm Kiếm Quặng Titan sa Khoáng tại Từ Thiện

Phương án tìm kiếm quặng titan được thiết kế dựa trên các đặc điểm địa chất, địa lý vùng Từ Thiện ven biển. Mục đích chính là đánh giá tiềm năng quặng titan sa khoáng có giá trị kinh tế cao. Phương án áp dụng các phương pháp tìm kiếm hiện đại kết hợp với kỹ thuật khoan, lấy mẫu để xác định trữ lượng khoáng sản. Khối lượng công tác bao gồm khảo sát địa chất, độc lập địa chất, khoan thăm dò, phân tích mẫu, tính toán tài nguyên. Dự toán chi phí dự kiến bao gồm chi phí khảo sát, khoan, lấy mẫu, phân tích, báo cáo. Kết quả phương án này sẽ cung cấp dữ liệu quan trọng cho hoạch định chiến lược khai thác khoáng sảnNinh Thuận.

3.1. Mục đích và nhiệm vụ tìm kiếm

Mục đích chínhtìm kiếm và đánh giá quặng titan sa khoáng với nồng độ cao ở khu Từ Thiện. Nhiệm vụ cụ thể bao gồm: xác định phân bố không gian quặng, tính toán trữ lượng khoáng sản, đánh giá tính khả thi kinh tế của khai thác quặng titan. Kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ quyết định đầu tư phát triển ngành khoáng sản tại Ninh Thuận.

3.2. Phương pháp áp dụng và tổ chức thi công

Phương pháp tìm kiếm bao gồm: khảo sát địa chất, độc lập địa chất chi tiết, khoan thăm dò mạng lưới, lấy mẫu và phân tích. Tổ chức thi công được đơn vị Liên đoàn Địa chất Trung Trung Bộ triển khai. Dự toán chi phí bao gồm nhân công, vật tư, máy móc, chi phí phân tích mẫu và lập báo cáo kỹ thuật.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu và Ứng Dụng Thực Tiễn

Đồ án tốt nghiệp này hoàn thành sau hơn 2 tháng làm việc khẩn trương với sự hỗ trợ của TS. Lương Quang Khang và các cán bộ Liên đoàn Địa chất Trung Trung Bộ. Kết quả nghiên cứu cung cấp những thông tin địa chất chi tiết về cấu trúc địa chất vùng An Hải, đặc biệt là tiềm năng quặng titan sa khoáng ven biển. Những dữ liệu thu được đánh giá, phân tích để đưa ra phương án tìm kiếm khoa học, giúp xác định mục tiêu khoan hiệu quả. Ứng dụng thực tiễn của đồ án này là cung cấp cơ sở khoa học cho khai thác khoáng sản, phát triển kinh tế địa phương. Những kết quả này cũng góp phần vào tập sự thực tế cho sinh viên ngành địa chất, nâng cao kỹ năng tìm kiếm và thăm dò khoáng sản.

4.1. Kết quả đạt được từ đồ án

Kết quả chính bao gồm: lập bản đồ địa chất chi tiết vùng An Hải - Ninh Thuận, xác định đặc điểm cấu trúc, phân bố sa khoáng khu Từ Thiện. Dữ liệu trữ lượng quặng titan được tính toán, cơ sở tính khả thi kinh tế được đánh giá. Nghiên cứu này cung cấp hướng dẫn cụ thể cho các hoạt động khai thác khoáng sản tiếp theo.

4.2. Ý nghĩa và hướng phát triển

Ý nghĩa của đồ án nằm ở tính ứng dụng cao trong khoáng sản Ninh Thuận. Kết quả này là nền tảng cho các nghiên cứu sâu hơn, khai thác thương mại. Hướng phát triển tiếp theo là khảo sát chi tiết, cấp phép khai thác, phát triển bền vững ngành khoáng sản tại Ninh Thuận.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ NHÂN VĂN VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT VÙNG I.1- Vị trí địa lý và diện tích vùng nghiên cứu. Vùng An Hải Thuộc các xã: An Hải, Phước Dinh, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Cách ngã ba giữa Quốc lộ 1A và tỉnh lộ 407 (nam thị xã Phan Rang- Tháp Chàm 12km) theo hướng tỉnh lộ 407 xuống biển khoảng 18 km đến trung tâm vùng công tác. ( Hình 1) Diện tích nghiên cứu khoảng 139 Km2, được giới hạn bởi toạ độ địa lý: 11o 24’18” - 11o 30’30” vĩ độ Bắc 108o 55’46” - 109o 01’10” kinh độ Đông I.2- Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế nhân văn.a- Địa hình đồi núi thấp.

Địa hình núi thấp và đồi nhỏ phân bố chủ yếu ở phần tây nam kéo dài ra tận bờ biển trùng với phương cấu trúc chung và rải rác một số nơi trong vùng. Độ cao tuyệt đối từ 100 - 380m, sườn dốc, đỉnh thường nhọn. Địa hình phân cắt khá mạnh. Thảm thực vật ở đây phát triển các loài cây thân gỗ thấp và các loài cây có gai cứng.

Đây là một hạn chế cho quá trình đi khảo sát thực địa.b- Địa hình đồng bằng. Chiếm phần lớn diện tích vùng nghiên cứu là đồng bằng ven biển, được thành tạo bởi các trầm tích bở rời có nguồn gốc sông, biển, hỗn hợp sông - biển, biển - đầm lầy. Bề mặt địa hình nghiêng thoải, độ cao tuyệt đối từ vài mét đến hơn 100m. Đây là đối tượng canh tác của dân trong vùng và đồng thời là đối tượng tìm kiếm titan sa khoáng ven biển.- Mạng sông, suối, bờ biển.

Sinh viên: Nguyễn Cảnh Nho Lớp địa chất K48 4 Đồ án tốt nghiệp Bộ môn Tìm kiếm - Thăm dò Mạng sông suối trong vùng khá phong phú, phía bắc vùng có sông Cái bắt nguồn từ sườn đông khối nâng Đà Lạt chảy về, kết hợp với các sông nhánh khác là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cũng như vật liệu trầm tích chính cho vùng hạ lưu. Trung tâm vùng có các sông suối nhỏ chảy qua như: Sông Bàu Ngư bắt nguồn từ dãy núi Chà Bang huyện Ninh Phước với lưu lượng nước ít, nhưng cũng góp phần vào việc bù đắp vật liệu và điều tiết khí hậu cho vùng. Suối Tam Lang và một số suối khác, hội tụ với các bàu: Bàu Ngư, Bàu Sơn Hải tạo nên mạng thủy văn đa dạng. Bờ biển kéo dài hướng bắc- nam khoảng 18 km, nằm về phía bờ nam cửa sông Cái, kết hợp với tác động của dòng chảy ven bờ và chịu tác động mạnh của thuỷ triều là yếu tố thuận lợi cho quá trình tích tụ sa khoáng biển.

Quá trình xâm thực, tích tụ phát triển đường bờ tạo ra dạng địa hình bờ đặc trưng với các mũi nhô ra biển: Mũi Dinh.; Các vũng, vịnh lõm sâu vào nội địa: Vũng Ninh Chữ, vũng Sơn Hải. Các yếu tố đó làm cho địa hình đường bờ thêm phức tạp. Khí hậu vùng nghiên cứu mang tính chất nhiệt đới miền duyên hải. Khí hậu được chia làm hai mùa tương đối rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa trung bình 1.500mm, Độ ẩm tương đối 75- 85%; Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, tổng lượng mưa mùa khô 110- 130mm, độ ẩm tương đối 70- 80%; Nhìn chung đây là khu vực có lượng mưa trung bình trong năm thấp nhất cả nước, khí hậu khô nóng là chủ yếu.

Trong vùng đại đa số dân tộc Kinh ngoài ra còn có ít dân tộc Hoa, dân tộc Chăm cùng sinh sống. Mật độ dân số tập trung cao ở các vùng thị trấn, thị xã. Trình độ dân trí phát triển. Họ sống với các ngành nghề đa dạng: công, nông, ngư nghiệp và buôn bán.

Dân số ven biển mật độ thưa thớt hơn, nghề nghiệp chủ yếu nông, ngư nghiệp, một bộ phận buôn bán nhỏ. Lâm nghiệp nghèo nàn, chỉ mới có một số cánh rừng Tràm dân mới trồng chiếm diện tích ít ỏi. Ngư nghiệp Sinh viên: Nguyễn Cảnh Nho Lớp địa chất K48 5 Đồ án tốt nghiệp Bộ môn Tìm kiếm - Thăm dò tương đối phát triển, nghề nuôi trồng thuỷ sản được người dân đặc biệt chú trọng.a- Đường bộ: Mạng lưới giao thông trong vùng khá phát triển, có con đường tỉnh lộ 407 là đường đất, cho nên việc đi lại khá thuận tiện. Chưa có phương tiện giao thông công cộng mà chủ yếu bằng xe gắn máy và xe đạp.b- Đường thuỷ: Mạng lưới sông suối nhỏ và giáp biển, suối nông, lượng nước ít nên không thể đi lại bằng thuyền được.

Bờ biển khá dài nhưng không có cảng, chỉ thuận lợi cho ghe thuyền nhỏ làm nghề đánh bắt thuỷ sản gần bờ. Tóm lại: các đặc điểm địa lý, kinh tế, nhân văn khu vực nghiên cứu nhìn chung thuận lợi cho việc phát triển các ngành kinh tế: nông nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công. Đồng thời các yếu tố đó góp phần cho việc thi công các đề tài nghiên cứu địa chất và khoáng sản nói chung và phương án “Tìm kiếm đánh giá titan sa khoáng ven biển khu Từ Thiện” nói riêng đạt hiệu quả.3- LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT. Lịch sử nghiên cứu địa chất khu thiết kế gắn liền với lịch sử nghiên cứu địa chất toàn vùng và cũng được chia làm hai giai đoạn như sau: I.

Giai đoạn trước năm 1975 Trước ngày Miền Nam giải phóng (năm 1975), các tài liệu nghiên cứu địa chất và khoáng sản nói chung và sa khoáng nói riêng ở các tỉnh phía nam còn mang tính sơ lược. Theo thứ tự thời gian có vài công trình nghiên cứu sau đây: - Năm 1928 - 1932, E. Saurin nghiên cứu và tổng hợp tài liệu để thành lập tờ bản đồ địa chất Nha Trang (E- 48) tỷ lệ 1:500. Trong đó ông đã chia các trầm tích hệ Thứ tư thành hai thống Pleistocen (Đệ Tứ cũ) và Holocen (Đệ Tứ mới) - Năm 1949, Shepard thành lập bản đồ trầm tích đáy biển ở vùng tây Thái Bình Dương, trong đó các trường cát hạt thô - nhỏ trước cửa sông Hồng và sông Sinh viên: Nguyễn Cảnh Nho Lớp địa chất K48 6 Đồ án tốt nghiệp Bộ môn Tìm kiếm - Thăm dò Cửu Long (ở độ sâu 20 - 50m) được các nhà địa chất biển cho là trầm tích aluvi cổ.

- Năm 1950, các Chuyên viên địa chất Nhật Bản nghiên cứu và khai thác cát trắng ven biển vùng Thuỷ Triều - Cam Ranh, sau đó các công ty của Bùi Văn Quang và Nguyễn Trọng Hồng khai thác 500.000 tấn cát trắng xuất khẩu sang Nhật. - Năm 1957 - 1971, Nguyễn Hữu Khổ, Nông Văn Bé (Đại học Hóa học Sài Gòn cũ) sơ bộ khảo sát cát trắng ven biển từ Phước Tuy đến Ba Ngòi ước lượng khoảng 2. - Năm 1974, Nguyễn Tấn Thi có bài báo "Đóng góp mới vào nghiên cứu khoáng vật nặng trong cát của các bãi biển Việt Nam". Năm 1975, Nguyễn Tấn Thi và Phạm Tuyết Nhung có "Phúc trình khảo sát sơ khởi cát đen tại bờ biển Việt Nam" Các tác giả đã tổng hợp tài liệu, lập bảng thống kê hàm lượng khoáng vật nặng của 13 vùng ven biển trên lãnh thổ Miền Nam, Việt Nam.2- Giai đoạn sau năm 1975 Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, các công trình nghiên cứu địa chất và khoáng sản được xúc tiến khá toàn diện và có hệ thống.

Thống kê sơ bộ theo thời gian, có một số công trình nghiên cứu sau: Năm 1975 - 1979, Nguyễn Xuân Bao, Trần Đức Lương và n.k đã thành lập Bản đồ địa chất tỷ lệ 1:500.000 toàn lãnh thổ Miền Nam. - Năm 1985, Nguyễn Kim Hoàn và n.k (Viện nghiên cứu Địa chất) hoàn thành đề tài: "Đặc điểm địa chất và triển vọng khoáng sản titan sa khoáng ven biển Việt Nam". Các tác giả đã phát hiện hoặc tái khẳng định nhiều điểm tụ khoáng có giá trị, trong đó một số vị trí được tính tài nguyên dự báo cấp C2 + P1. -Năm 1991 Hồ Trọng Ký đoàn địa chất Việt Tiệp đã có báo cáo đo vẽ thành lập bản đồ địa chất khoáng sản nhóm tờ Cam Ranh - Phan Rang - Năm 1991 - 1994, Nguyễn Biểu và n.k đã điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản sa khoáng ven bờ (0 - 30m nước) Miền Trung (Nga Sơn - Vũng Tàu).

Công trình này đã nhắc đến các điểm sa khoáng Mũi Né, Bình Nhơn, Hàm Sinh viên: Nguyễn Cảnh Nho Lớp địa chất K48 7 Đồ án tốt nghiệp Bộ môn Tìm kiếm - Thăm dò Tân, La Gi, Hòn Gốm, Ba ngòi - Cam Ranh. Đây tài liệu quý, có tính định hướng cho công tác tìm kiếm sa khoáng tiếp theo. - Năm 1995, tập thể các nhà địa chất Liên đoàn Bản đồ Địa chất 6 hoàn thành công trình đo vẽ địa chất tỷ lệ 1:200. Công trình này đã xếp các thành tạo bở rời ven biển Nam Trung Bộ thuộc trầm tích Đệ Tứ và đã sơ bộ phân chia theo nguồn gốc trầm tích và phân chia đến bậc.

Đặc biệt công trình này cũng chỉ ra nhiều tụ khoáng ven biển định hướng cho công tác tìm kiếm tiếp theo. Đội đã tiến hành 300 mét khoan tay, phân tích 97 mẫu trọng sa cơ bản, 16 mẫu trọng sa toàn diện. Các tác giả bước đầu nhận định các phân vị Đệ Tứ có khả năng chứa sa khoáng ilmenit, zircon. Thuộc các tích tụ: trầm tích biển tướng bar cát hệ tầng Phan Thiết (m bQ12-3pt), tích tụ trầm tích nguồn gốc gió Holocen trung- thượng, Holocen thượng: mvQ22-3, vQ23.

Theo thời gian, các công trình nghiên cứu địa chất, khoáng sản, các nghiên cứu chuyên đề : địa mạo, kiến tạo, chuyên khoáng. Đã góp phần làm sáng tỏ hơn về cấu trúc địa chất và khoáng sản Miền Nam nói chung và ven biển Nam Trung Bộ nói riêng mà trong đó có vùng An Hải. Nhiều công trình nghiên cứu địa chất và khoáng sản sa khoáng đã khẳng định khu vực Nam Trung Bộ giàu tiềm năng sa khoáng. Tuy nhiên trữ lượng đã thăm dò và tài nguyên dự báo thấp hơn nhiều so với khu vực Trung Trung Bộ và Bắc Trung Bộ, song hàm lượng zircon cao hơn và diện phân bố các đối tượng chứa sa khoáng rất rộng.

Hiện nay titan sa khoáng ven biển được các đơn vị khai thác và xuất khẩu tinh quặng ilmenit, chủ yếu sang Nhật Bản và Trung Quốc với sản lượng. Sản lượng khai thác quặng titan toàn quốc năm 1995: 57. Công nghệ khai thác titan của các doanh nghiệp trong nước về cơ bản giống nhau: dùng dòng chảy sức nước kết hợp với máy xúc, máy gạt, tuyển bằng phân ly côn, tuyển vít đứng và tuyển từ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ