Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước theo định hướng phát triển bền vững, sự mở rộng về quy mô của các cơ sở sản xuất, mạng lưới dịch vụ cùng sự gia tăng nhanh chóng của các khu dân cư tập trung đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống xã hội. Tuy nhiên, quá trình này cũng làm phát sinh lượng lớn chất thải, tạo ra áp lực nghiêm trọng đối với môi trường sinh thái. Đứng trước yêu cầu cấp thiết về thu hồi, xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường, việc khảo sát và hệ thống hóa hiện trạng môi trường tự nhiên, nhân tạo và xã hội tại các địa phương là cơ sở quan trọng để đề xuất định hướng phát triển bền vững.

Đồ án tập trung nghiên cứu thực trạng môi trường tại hai tỉnh duyên hải thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long là Bạc Liêu và Sóc Trăng. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của tác giả được xác định như sau:

  1. Tổng hợp và phân tích các đặc trưng điều kiện tự nhiên, bao gồm vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, tài nguyên sinh vật và tài nguyên biển của tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Sóc Trăng.
  2. Khảo sát các công trình kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật và điểm đến sinh thái đại diện cho môi trường nhân tạo tại hai địa phương.
  3. Đánh giá hiện trạng môi trường xã hội thông qua các chỉ số phát triển kinh tế, hệ thống mạng lưới giáo dục - đào tạo và các giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể đặc trưng của cộng đồng các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố cấu thành ba phân hệ môi trường (môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo, môi trường xã hội) tại hai tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính tỉnh Bạc Liêu (diện tích tự nhiên 2.669 km², gồm 1 thành phố, 1 thị xã, 5 huyện với 64 đơn vị cấp xã) và tỉnh Sóc Trăng (vùng hạ lưu Nam sông Hậu, chiều dài bờ biển 72 km với 3 cửa sông lớn Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh).
  • Phạm vi thời gian: Đồ án thu thập và kế thừa các nguồn dữ liệu thứ cấp, mốc số liệu thống kê từ năm 2007, 2008, 2009, 2010, 2014 và cập nhật thông tin tổng thuật đến thời điểm hoàn thành báo cáo vào tháng 4 năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Tác giả tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên việc phân định ba khái niệm môi trường cơ bản:

  • Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố địa lý, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên hình thành độc lập với ý chí con người.
  • Môi trường nhân tạo: Được định nghĩa trong văn bản là toàn bộ các yếu tố do con người tạo ra (như thành phần hóa học, tính chất vật lý, công trình hạ tầng, cảnh quan kiến trúc...) và bị chi phối bởi hoạt động của con người.
  • Môi trường xã hội: Được xác định là mối quan hệ giữa người với người, thể hiện qua hệ thống luật lệ, cam kết, thể chế, ước định; là môi trường mà con người là nhân tố trung tâm tham gia và chi phối trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, thể thao, lịch sử và giáo dục.

Về mặt phương pháp luận, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp:

  • Phương pháp thu thập và tổng hợp dữ liệu: Khai thác thông tin địa lý, kinh tế - xã hội, văn hóa từ bách khoa toàn thư mở Wikipedia (mục từ Bạc Liêu, Sóc Trăng cập nhật ngày 21/04/2022), các bản tin thời sự của Thông tấn xã Việt Nam (VietnamPlus) và các cổng thông tin văn hóa, du lịch chuyên ngành (Lữ hành Việt Nam, Thám hiểm Mekong, VietinTravel, VNTRIP, Toplist).
  • Phương pháp thống kê mô tả và so sánh: Tổng thuật các chỉ tiêu định lượng về diện tích, cơ cấu sử dụng đất, mạng lưới trường lớp giáo dục, số lượng học sinh - giáo viên, trữ lượng hải sản và các thông số kỹ thuật của công trình nhân tạo.
  • Phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin: Thực hiện chuẩn hóa cấu trúc văn bản, mục lục tự động, quản lý danh mục hình ảnh và bảng biểu theo yêu cầu kỹ thuật của học phần Tin học đại cương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Môi trường tự nhiên của tỉnh Bạc Liêu

Chương 1 trình bày chi tiết các đặc điểm tự nhiên của tỉnh Bạc Liêu với diện tích 2.669 km², chiếm gần 0,8% diện tích cả nước (đứng thứ 7 trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long). Tọa độ địa lý của tỉnh trải dài từ điểm cực Bắc (9°37’00’’ B tại xã Vĩnh Lộc A, huyện Hồng Dân) đến cực Nam (9°00’00’’ B tại thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải), cực Tây (105°15’00’’ Đ tại xã Tân Thạnh, thị xã Giá Rai) và cực Đông (105°52’30’’ Đ tại xã Hưng Thành, huyện Vĩnh Lợi). Vùng biển thuộc quyền quản lý của tỉnh rộng trên 40.000 km².

Địa hình Bạc Liêu bằng phẳng, độ cao phổ biến từ 0,8 đến 1,5 m so với mặt biển, độ nghiêng trung bình 1 đến 1,5 cm/km theo hướng Đông Bắc - Tây Nam. Quá trình bồi tụ mở rộng bãi bồi ven biển diễn ra với tốc độ trên 30 m/năm, tuy nhiên đoạn bờ biển từ Ấp Gò Cát (xã Điền Hải) đến thị trấn Gành Hào (huyện Đông Hải) bị xói lở mạnh khoảng 10 m/năm. Khí hậu mang tính chất cận xích đạo gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 26 - 27°C (tháng 5 cao nhất đạt 35 - 36°C, có lúc lên 37°C; tháng 1 thấp nhất từ 18 - 20°C). Lượng mưa trung bình năm trên 1.700 mm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa (tháng 5 đến tháng 11, chiếm hơn 93% tổng lượng mưa). Nguồn nước ngầm phân bố ở 3 tầng địa chất: Plêitôxin, Plêiôxen và Miôxen.

Về thổ nhưỡng, tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 258.000 ha (trong đó đất nông nghiệp chiếm 98.309 ha; đất nuôi trồng thủy sản và làm muối chiếm 120.714 ha; đất lâm nghiệp có rừng 4.832 ha; đất chuyên dùng 11.176 ha; đất cát giồng 447 ha chiếm 0,2% diện tích dùng chuyên canh nhãn cổ và hoa màu). Hệ sinh thái rừng ngập mặn có diện tích 4.657 ha (1,87% diện tích tự nhiên) với 104 loài thực vật, 12 loài bò sát (trong đó rắn hổ mang và cò quắm trắng nằm trong Sách đỏ Việt Nam), 14 loài cá đồng nước ngọt. Tài nguyên biển ghi nhận 661 loài cá (thuộc 319 giống, 138 họ), 33 loài tôm biển; trữ lượng cá nổi và cá đáy đạt trên 100.000 tấn/năm, sản lượng khai thác đạt gần 100.000 tấn hải sản/năm (riêng sản lượng tôm gần 10.000 tấn).

Chương 2: Môi trường nhân tạo của tỉnh Bạc Liêu

Chương này khảo sát các công trình kiến trúc và hạ tầng tiêu biểu tại Bạc Liêu:

  • Quảng trường Hùng Vương: Tọa lạc tại Phường 1, thành phố Bạc Liêu; khởi công năm 2013 và đưa vào sử dụng năm 2014 với tổng diện tích sử dụng trên 85.000 m² (mặt bằng sân lát đá tự nhiên xám nhạt và đậm trên 40.000 m²).
  • Nhà hát Cao Văn Lầu: Thường gọi là "nhà hát 3 nón lá", công trình có chiều cao nón lá lớn nhất hơn 24 m và đường kính nón lá lớn nhất hơn 45 m, biểu trưng cho 3 miền Bắc - Trung - Nam, 3 dân tộc Kinh - Khmer - Hoa và sự gắn kết gia đình.
  • Biểu tượng cây đờn kìm: Được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam công nhận là cây đờn kìm lớn nhất cả nước với tổng chiều cao 18,6 m, đặt trên 5 cánh sen trong hồ nước hình ngôi sao 5 cánh tại Quảng trường Hùng Vương.
  • Cánh đồng điện gió Bạc Liêu: Dự án điện gió ven biển đầu tiên tại Việt Nam (khởi công từ năm 2010 tại xã Vĩnh Trạch Đông, thành phố Bạc Liêu), quy mô 62 cột tháp turbin đặt trên biển, mỗi trụ cao 80 m, cánh quạt dài 42 m.

Chương 3: Môi trường xã hội của tỉnh Bạc Liêu

Tác giả trình bày định hướng phát triển kinh tế tỉnh Bạc Liêu dựa trên 5 trụ cột: (1) nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tập trung vào lúa gạo và tôm; (2) năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời, điện khí); (3) du lịch; (4) thương mại - dịch vụ, giáo dục, y tế chất lượng cao; (5) kinh tế biển gắn với quốc phòng - an ninh.

Về giáo dục, theo thống kê ngày 30/09/2007, toàn tỉnh có 234 trường phổ thông. Đến ngày 20/07/2009, 100% xã/phường có phòng học kiên cố. Cơ cấu trường học gồm: 64 trường mầm non, 154 trường tiểu học, 67 trường THCS, 85 trường trung học, 3 trường cao đẳng (CĐ Y tế, CĐ Nghề, CĐ Kinh tế - Kỹ thuật) và 1 trường đại học (Đại học Bạc Liêu). Tỷ lệ tốt nghiệp lớp 9 đạt 96,93%; tỷ lệ thanh thiếu niên 15 - 18 tuổi có bằng tốt nghiệp THCS đạt 81,35%; tỷ lệ trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,10%.

Văn hóa phi vật thể tại Bạc Liêu được thể hiện qua các lễ hội lớn:

  • Lễ hội Quán Âm Nam Hải (Mẹ Nam Hải): Diễn ra từ 22 đến 24 tháng 3 âm lịch tại khu vực Phật bà Nam Hải (phường Nhà Mát, quy mô 6 ha).
  • Lễ hội Nghinh Ông Gành Hào: Tổ chức từ mùng 8 đến mùng 10 tháng 3 âm lịch tại huyện Đông Hải, quy tụ trên 100 tàu thuyền đánh bắt hải sản trang hoàng cờ hoa tham gia lễ rước Đại tướng quân Nam Hải.
  • Lễ hội Dạ cổ Hoài Lang: Tổ chức tại Khu lưu niệm nghệ thuật Đờn ca tài tử và nhạc sĩ Cao Văn Lầu cùng Quảng trường Hùng Vương nhằm tôn vinh cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu và di sản Đờn ca tài tử Nam Bộ.

Chương 4: Môi trường tự nhiên của tỉnh Sóc Trăng

Sóc Trăng nằm ở hạ lưu sông Hậu, tọa độ 9°12’ - 9°56’ B và 105°33’ - 106°23’ Đ. Điểm cực Bắc tại xã Xuân Hòa (huyện Kế Sách), cực Nam tại xã Lai Hòa (thị xã Vĩnh Châu), cực Tây tại xã Vĩnh Quới (thị xã Ngã Năm) và cực Đông tại xã An Thạnh 3 (huyện Cù Lao Dung). Đường bờ biển dài 72 km cùng 3 cửa sông lớn Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh.

Địa hình tỉnh có dạng lòng chảo, cao ở ven sông Hậu và Biển Đông rồi thấp dần vào nội đồng phía Tây và Tây Bắc; độ cao tuyệt đối từ 0,4 đến 1,5 m, độ dốc khoảng 45 cm/km. Chế độ bán nhật triều dao động từ 0,4 đến 1 m. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình năm 26,8°C, độ ẩm trung bình 83%, lượng mưa bình quân 1.864 mm/năm (mưa tập trung các tháng 8, 9, 10).

Cơ cấu đất đai Sóc Trăng bao gồm 4 nhóm chính: đất cát, đất phù sa, đất mặn và đất nhân tác. Tỷ lệ đất nông nghiệp chiếm 82,89% (trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 62,13%; đất nuôi trồng thủy sản chiếm 54.373 ha, tương đương 16,42%; đất lâm nghiệp có rừng chiếm 11.356 ha, tương đương 3,43%; đất làm muối và nông nghiệp khác chiếm 0,97%). Rừng ngập mặn và rừng tràm ngập phèn có các loài cây chủ yếu: tràm, bần, giá, vẹt, đước, dừa nước.

Chương 5: Môi trường nhân tạo của tỉnh Sóc Trăng

Chương 5 giới thiệu các điểm đến và hạ tầng cảnh quan sinh thái nhân tạo tiêu biểu của tỉnh:

  • Cồn Mỹ Phước: Nằm giữa dòng sông Hậu thuộc xã Nhơn Mỹ (huyện Kế Sách), là vùng trồng cây ăn trái kết hợp dịch vụ du lịch miệt vườn (sầu riêng, cam quýt, hồng xiêm, xoài, nhãn).
  • Khu du lịch sinh thái Bình An: Tọa lạc tại số 71, Phường 2, thành phố Sóc Trăng, tích hợp hệ thống khuôn viên cây xanh, hồ bơi, ao cá, dịch vụ ẩm thực và sân khấu biểu diễn giải trí.
  • Khu du lịch sinh thái Hồ Bể: Tọa lạc trên tuyến Nam Sông Hậu thuộc thị xã Vĩnh Châu, sở hữu bãi cát ven biển phục vụ hoạt động cắm trại và khai thác dịch vụ hải sản địa phương.

Chương 6: Môi trường xã hội của tỉnh Sóc Trăng

Về kinh tế, Sóc Trăng tập trung triển khai chương trình chuyển đổi số và phát triển kinh tế số nhằm kết nối chuỗi cung ứng sản xuất, chế biến và tiêu thụ hàng hóa, nông sản địa phương.

Về giáo dục, tính đến ngày 30/09/2008, toàn tỉnh có 422 trường học phổ thông (đứng thứ 4 khu vực Đồng bằng sông Cửu Long). Đến ngày 31/12/2008, tổng số học sinh phổ thông đạt 206.550 học sinh (cấp trung học: 114.639 học sinh; cấp THCS: 64.216 học sinh; cấp THPT: 27.695 học sinh). Đội ngũ giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy có 12.268 người (giáo viên trung học: 6.373 người; THCS: 4.091 người; THPT: 1.822 người). Tỉnh có 2 trường cao đẳng là Trường Cao đẳng Nghề Sóc Trăng và Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng.

Văn hóa vật thể Sóc Trăng nổi bật với hệ thống hơn 200 ngôi chùa của ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer:

  • Chùa Dơi (Chùa Mahatup): Tọa lạc tại số 73B Lê Hồng Phong, Phường 3, thành phố Sóc Trăng; khởi dựng từ khoảng thế kỷ XVI, mang kiến trúc Phật giáo Nam tông Khmer đặc trưng và là nơi cư trú của đàn dơi lớn.
  • Bảo tàng Khmer: Đặt tại Phường 6, thành phố Sóc Trăng, trưng bày các hiện vật, trang phục, nhạc cụ phản ánh đời sống tinh thần và văn hóa Khmer Nam Bộ.
  • Chùa Chén Kiểu (Chùa Sà Lôn): Nằm trên Quốc lộ 1A (cách thành phố Sóc Trăng 12 km về hướng Bạc Liêu), nổi bật với nghệ thuật ốp tường bằng chén, đĩa sứ hoa văn và mái chánh điện tam cấp sơn vàng.
  • Văn hóa ẩm thực: Đa dạng với bánh pía Vũng Thơm, bánh phồng tôm, cốm dẹp, xá bấu Vĩnh Châu, bún nước lèo, bò nướng ngói Mỹ Xuyên, khô trâu Thạnh Trị, hành tím Vĩnh Châu.

Văn hóa phi vật thể ghi nhận các lễ hội truyền thống đặc sắc:

  • Lễ Đấu đèn: Tổ chức vào dịp rằm tháng Giêng (Tết Nguyên Tiêu) tại Chùa Ông Bổn nhằm gây quỹ từ thiện và công ích xã hội.
  • Lễ Ooc-om-boc (Lễ Cúng Trăng): Tổ chức đêm rằm tháng 10 âm lịch (Khe Ka-đâk) để tạ ơn Thần Mặt Trăng, nghi thức do vị Achar hoặc trưởng lão thực hiện cùng phong tục đút cốm dẹp cho trẻ nhỏ.
  • Hội Đua ghe Ngo (Prònăng tuuk ngôo): Diễn ra vào ngày 14 - 15 tháng 10 âm lịch trên sông Maspero; sử dụng ghe ngo dài 20 - 30 m chạm khắc hình đầu rắn thần Nagar; quy tụ hàng chục đội ghe và thu hút khoảng 30.000 khán giả.
  • Lễ hội Loi-Protip (Lễ thả đèn nước/hoa đăng): Tổ chức trên sông Maspero cùng dịp lễ Ooc-om-boc nhằm cúng chiếc răng nanh của Đức Phật Thích Ca, tạ lỗi và cảm tạ Thần Mặt Đất (Prés thôrni) cùng Thần Nước (Prés kôong kea).
Tiêu chí so sánh Tỉnh Bạc Liêu Tỉnh Sóc Trăng
Diện tích tự nhiên 2.669 km² Thuộc hạ lưu Nam sông Hậu
Đường bờ biển 56 km 72 km
Độ cao địa hình cốt đất 0,8 - 1,5 m (độ nghiêng 1 - 1,5 cm/km) 0,4 - 1,5 m (độ dốc 45 cm/km)
Nhiệt độ trung bình 26 - 27°C 26,8°C
Lượng mưa bình quân Trên 1.700 mm/năm 1.864 mm/năm
Độ ẩm trung bình Mang tính chất nhiệt đới gió mùa 83%
Hạ tầng giáo dục phổ thông 234 trường (năm 2007) 422 trường (năm 2008)
Công trình nhân tạo tiêu biểu Nhà hát Cao Văn Lầu, Cây đờn kìm, Điện gió Cồn Mỹ Phước, KDL Bình An, KDL Hồ Bể
Di tích tôn giáo tiêu biểu Khu Phật bà Quán Âm Nam Hải (6 ha) Chùa Dơi, Chùa Chén Kiểu, Bảo tàng Khmer
Lễ hội đặc trưng Nghinh Ông Gành Hào, Dạ cổ Hoài Lang Ooc-om-boc, Đua ghe Ngo, Loi-Protip, Đấu đèn

Kết quả và đóng góp của đồ án

Kết quả chính

  • Đồ án đã tổng hợp hệ thống số liệu định lượng chi tiết về tài nguyên thiên nhiên của hai tỉnh: Bạc Liêu sở hữu bờ biển 56 km, vùng biển quản lý hơn 40.000 km², trữ lượng cá trên 100.000 tấn/năm, diện tích rừng ngập mặn 4.657 ha với 104 loài thực vật; Sóc Trăng có bờ biển 72 km, đất sản xuất nông nghiệp chiếm 62,13%, đất nuôi trồng thủy sản đạt 54.373 ha và đất lâm nghiệp có rừng đạt 11.356 ha.
  • Trích xuất đầy đủ các thông số kiến trúc và hạ tầng: Nhà hát Cao Văn Lầu có đường kính nón lá lớn nhất hơn 45 m và chiều cao hơn 24 m; cây đờn kìm đạt kỷ lục Việt Nam với chiều cao 18,6 m; dự án điện gió Bạc Liêu có 62 turbin biển cao 80 m với chiều dài cánh 42 m; thống kê mạng lưới hơn 200 ngôi chùa tại Sóc Trăng.
  • Hệ thống hóa các chỉ số giáo dục: Bạc Liêu có 234 trường phổ thông (năm 2007) với 1 trường đại học và 3 trường cao đẳng; Sóc Trăng có 422 trường phổ thông, 206.550 học sinh và 12.268 giáo viên (năm 2008) cùng 2 trường cao đẳng.

Định hướng và giải pháp do tác giả trích xuất từ tài liệu

  • Đối với Bạc Liêu: Phát triển kinh tế gắn liền với 5 trụ cột chiến lược (nông nghiệp công nghệ cao lúa - tôm; năng lượng sạch; du lịch; dịch vụ chất lượng cao; kinh tế biển kết hợp quốc phòng - an ninh); khai thác và sử dụng tiết kiệm nguồn nước ngầm ở 3 tầng địa chất nhằm chống cạn kiệt và ô nhiễm.
  • Đối với Sóc Trăng: Triển khai chuyển đổi số và kinh tế số trong chuỗi sản xuất nông nghiệp; đẩy mạnh phát triển kinh tế biển tổng hợp (thương cảng, cảng cá, dịch vụ logistics hàng hải) gắn với du lịch sinh thái miệt vườn sông nước tại các cồn cù lao (Mỹ Phước, Cù Lao Dung).

Đóng góp của đồ án

Tác giả đã hoàn thành việc xây dựng một tài liệu tổng hợp có bố cục chặt chẽ theo mô hình 3 thành phần môi trường (tự nhiên - nhân tạo - xã hội), kết hợp kỹ năng xử lý văn bản, lập bảng biểu đối sánh và biên tập hình ảnh minh họa theo đúng chuẩn mực của đồ án môn Tin học đại cương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:

    • Dữ liệu sử dụng trong đồ án hoàn toàn là dữ liệu thứ cấp được tổng thuật từ các trang thông tin điện tử và bách khoa toàn thư mở; thiếu vắng các nguồn số liệu sơ cấp hoặc kết quả khảo sát thực tế tại hiện trường.
    • Các chỉ số thống kê về giáo dục và hạ tầng xã hội mang tính lịch sử (sử dụng mốc thời gian năm 2007 và 2008), chưa phản ánh kịp thời các biến động kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2020 - 2022.
    • Đồ án chưa đi sâu vào việc phân tích các chỉ số hóa lý của môi trường (chất lượng nước mặt, nước ngầm, nồng độ khí thải hay tải lượng chất thải rắn).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Cập nhật chuỗi số liệu thống kê kinh tế - xã hội và tài nguyên môi trường từ Niên giám thống kê chính thức của tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng ở giai đoạn mới nhất.
    • Bổ sung phương pháp khảo sát định lượng, lấy mẫu phân tích các chỉ tiêu chất lượng môi trường không khí, đất và nước dưới tác động của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn.
    • Ứng dụng các công cụ phần mềm chuyên sâu (như hệ thông tin địa lý GIS hoặc phần mềm phân tích dữ liệu thống kê) để xử lý không gian và mô hình hóa tác động môi trường.

Giá trị tham khảo

Đồ án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên khối ngành Kinh tế, Quản trị kinh doanh và Khoa học Xã hội: Tham khảo cấu trúc trình bày một báo cáo chuyên đề về địa lý kinh tế địa phương; học hỏi kỹ năng biên tập, định dạng mục lục, danh mục hình ảnh và bảng biểu trong văn bản học thuật môn Tin học đại cương.
  • Người nghiên cứu về Địa lý, Văn hóa và Du lịch Đồng bằng sông Cửu Long: Cung cấp tài liệu tổng quan súc tích về hệ thống di tích kiến trúc tôn giáo (Chùa Dơi, Chùa Chén Kiểu), công trình kỷ lục (Quảng trường Hùng Vương, Nhà hát 3 nón lá, Đờn kìm) và các lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào Kinh, Khmer, Hoa (Lễ Ooc-om-boc, Đua ghe Ngo, Loi-Protip, Nghinh Ông, Dạ cổ Hoài Lang).

Câu hỏi thường gặp

  1. Biểu tượng cây đờn kìm tại Quảng trường Hùng Vương (Bạc Liêu) có thông số kỹ thuật và ý nghĩa biểu trưng như thế nào?
    Cây đờn kìm tại Quảng trường Hùng Vương được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác nhận là cây đờn kìm lớn nhất nước với tổng chiều cao 18,6 m. Biểu tượng này được đặt trên 5 cánh sen lớn trong một hồ nước hình ngôi sao 5 cánh, tượng trưng cho nét đẹp văn hóa và sự phát triển của nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ gắn liền với vùng đất Bạc Liêu.

  2. Dự án Cánh đồng điện gió Bạc Liêu có quy mô kỹ thuật ra sao?
    Dự án điện gió Bạc Liêu được xây dựng từ năm 2010 tại xã Vĩnh Trạch Đông (thành phố Bạc Liêu), là dự án điện gió đầu tiên ở Việt Nam với các turbin đặt trên biển. Hệ thống bao gồm 62 cột tháp turbin, mỗi cột tháp cao khoảng 80 m và chiều dài cánh quạt là 42 m.

  3. Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Sóc Trăng được phân bổ như thế nào theo số liệu trong đồ án?
    Tỷ lệ đất nông nghiệp của Sóc Trăng chiếm 82,89% diện tích tự nhiên, bao gồm: đất sản xuất nông nghiệp chiếm 62,13%; đất nuôi trồng thủy sản chiếm 54.373 ha (16,42%); đất lâm nghiệp có rừng chiếm 11.356 ha (3,43%); đất làm muối và đất nông nghiệp khác chiếm 0,97%.

  4. Nghi thức và ý nghĩa của Lễ hội Ooc-om-boc của đồng bào Khmer tại Sóc Trăng được ghi nhận như thế nào?
    Lễ hội Ooc-om-boc (Lễ Cúng Trăng) diễn ra vào đêm Rằm tháng 10 âm lịch (Khe Ka-đâk) nhằm tạ ơn Thần Mặt Trăng đã điều hòa mùa màng và tiễn đưa Thần Nước. Lễ vật bắt buộc là cốm dẹp làm từ nếp non giã mỏng trộn dừa đường; nghi thức do vị Achar hoặc trưởng lão chủ trì, thực hiện việc đút cốm dẹp và hỏi ước muốn của trẻ nhỏ trong gia đình.

  5. Theo số liệu thống kê năm 2008, quy mô học sinh và giáo viên phổ thông tại Sóc Trăng đạt bao nhiêu?
    Tính đến ngày 31/12/2008, toàn tỉnh Sóc Trăng có 206.550 học sinh phổ thông (gồm 114.639 học sinh cấp trung học cơ sở và tiểu học phân cấp theo thống kê văn bản, 64.216 học sinh THCS, 27.695 học sinh THPT) và 12.268 giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy (gồm 6.373 giáo viên cấp dưới, 4.091 giáo viên THCS và 1.822 giáo viên THPT).

Kết luận

Đồ án "Môi trường tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng" của sinh viên Vũ Thùy Dương đã hoàn thành việc tổng hợp bức tranh toàn cảnh về ba thành phần môi trường tự nhiên, nhân tạo và xã hội của hai tỉnh Tây Nam Bộ. Báo cáo cung cấp nhiều dữ liệu định lượng cụ thể về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, hạ tầng công trình và các giá trị văn hóa - lễ hội đặc thù của cộng đồng các dân tộc địa phương. Đây là một công trình tổng thuật nghiêm túc, đáp ứng đúng các yêu cầu về cấu trúc, nội dung và kỹ thuật trình bày của học phần Tin học đại cương tại Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.