CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ ĐỊNH TỘI DANH ĐÓI VỚI CÁC TỘI PHẠM MA TÚY 1. Khái niệm định tội danh đối vói các tội phạm về ma túy 1. Khái niệm các tội phạm về ma túy Theo Luật Phòng chống ma túy (sửa đối) mới được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp cuối cùng của khóa XIV ngày 30/03/2021 quy định: "Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chinh phủ ban hành” [40], Cụ thề: "Chất gãy nghiện’' là một loại chất ức chế hoặc kích thích thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng [40].
"Chất hướng thần" là một loại chất ức chế, kích thích thần kinh hoặc gây ảo giác, có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng nếu sử dụng nhiều lần [40]. Bên cạnh đó, Luật phòng chổng ma túy năm 2021 cũng đặt ra quy định: "Tội phạm về ma tủy là các hành vi phạm tội được quy định tại Chương Các tội phạm về ma tủy trong Bộ luật Hình sự” [40]. Pháp luật nước ta qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung hiện nay các tội phạm về ma túy được quy định tại Chương XX BLHS năm 2015, bao gồm 13 điều luật (từ Điều 247 đến Điều 259) quy định 13 tội danh, cụ thể: - Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy (Điều 247); - Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248); - Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249); 13 - Tội vận chuyên trái phép chât ma túy (Điêu 250); - Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251); - Tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252); - Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 253); - Tội sàn xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 254); - Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255); - Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256); - Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 257); - Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 258); - Tội vi phạm quy định về quản lý chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần (Điều 259). Theo quan điếm chung hiện nay, các tội phạm về ma túy là hành vi cố ỷ xâm phạm chế độ quăn lý các chất ma túy của Nhà nước [44, tr.
Khái niệm định tội đanh • • • Định tội danh là hoạt động xác định tên của tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự thông qua việc xác định điều luật cụ thế điều chỉnh tội phạm. Trong suốt quá trình truy cứu TNHS, các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đều phải tiến hành định tội danh. Định tội danh là bước đầu xác 1 • • • • định TNHS của người phạm tội, nó có vai trò quan trọng là nền tảng, ảnh hưởng tới toàn bộ các hoạt động xác định TNHS tiếp theo như định khung và quyết định hình phạt. Chỉ khi đã xác định chính xác tội danh thì mới có thế xác định khung hình phạt và hình phạt.
Ngược lại khi hoạt động định tội danh 14 sai sẽ dẫn đến hậu quả là toàn bộ các kết quà của quá trình truy cứu TNHS trở thành sai lầm cũng như không còn giá trị pháp lý. Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về định tội danh. • • 1 • • Học giả Sliapôtrnhikov AC. đưa ra quan điểm: “Định tội đanh là một giai đoạn của hoạt động hảo vệ pháp luật do các cơ quan điều tra, truy tố và xét xử thực hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật hình sự và dựa vào các tình tiết thể hiện sự nguy hiếm cho xã hội của một hành vi cụ thể để xác định dấu hiệu của CTTP tương ứng với hành vi đó" [14].
Viện sỹ Kulravxey VN (Liên Xô cũ) lại cho ràng: “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lỷ hình sự, sự phù họp, chính xác giữa các dẩu hiệu của hành vi được thực hiện với các CTTP do quy phạm pháp luật hình sự quy định" [13, tr. Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, khoa học luật hình sự Việt Nam cũng chưa thống nhất khái niệm cụ thể về định tội danh. Đối với TS Lê Văn Đệ, bày tỏ quan điểm về khái niệm định tội danh như sau: “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp luật sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thê đã được thực hiện C □ • X • • • ••• với các dấu hiệu của CTTP được pháp luật hình sự quy định" [19, tr. Trong cuốn sách “Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự”, GS.
TSKH Lê Cảm cho rằng: “Định tội danh là một quá trình nhận thức lỷ luận có tính lôgic, là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự, và được tiến hành bằng cách - trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và cảc tình tiết thực tế của vụ án hình sự đế xác định sự phù họp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do với luật hình sự quy định, phải đạt được sự thật khách quan, tức là 15 đưa ra sự đánh giả chỉnh xác tội phạm vê mặt pháp lý hình sự, làm tiên đê cho việc cả thê hoả và phân hoả TNHS một cách công minh, có căn cứ pháp luật" 114, tr. Định nghĩa này có tính mô tả chỉ dẫn hoạt động cũng như thể hiện được yêu cầu và ý nghĩa của việc định tội danh. Trong các công trình nghiên cứu pháp lý khác, ta còn gặp một số định nghĩa khác về định tội danh có nội dung tương tự như định nghĩa mà GS. TSKH Lê Cảm hay TS Lê Văn Đệ đã nêu.
Nhìn chung, các góc nhìn của các học giả chủ yếu nghiên cứu định tội danh ở góc độ áp dụng pháp luật, xác định sự phù hợp giữa hành vi xảy ra trên thực tế và các quy định của BLHS [43, tr. Một quan điểm khác về định tội danh như sau: "Định tội danh là hoạt động của cơ quan tiến hành tổ tụng (Cơ quan Điều tra, Viện kiêm sát và Tòa án) và một số cơ quan khác cỏ thâm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của BLHS hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên tội cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện" [12, tr.9J - quan điểm của TS Dương Tuyết Miên.TS Võ Khánh Vinh với quan điểm cho rằng định tội danh là hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đan, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định CTTP tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của CTTP với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định [50, tr. Như vậy, mồi học giả với các cách tiếp cận, phương pháp diễn đạt cũng như mục đích tuy có sự khác nhau nhưng đều có chung quan điểm: "định tội 16 danh là hoạt động nhận thức của người tiên hành tô tụng, với nội dung là sự đổi chiếu, so sánh nhằm xác định sự phù hợp khách quan giữa hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế với các quy định của BLHS đê kết tội, quyết định hình phạt và các trách nhiệm pháp lỷ khác”. Định tội danh đối với các tội phạm về ma túy Định tội danh đối với các tội phạm về ma túy là hoạt động thực tiễn dựa • • • ± J * ũ • • trên các căn cứ pháp lý cụ thể được quy định từ Điều 247 đến Điều 259 Chương XX của BLHS về các tội phạm về ma túy.
Trên cơ sở các quy định này, các cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét, đánh giá hành vi đã thực hiện trên thực tế có thòa mãn dấu hiệu cùa tội phạm được quy định trong Chương XX của BLHS và sau đó xác định trách nhiệm của người phạm tội. Cơ sở chứng cứ, các tình tiết thực tế và tài liệu thu thập được của vụ án là những căn cứ quan trọng cho hoạt động định tội danh. Thông qua đó, cơ quan, cá nhân được trao thẩm quyền sẽ đối chiếu, đánh giá sự phù hợp giữa các tình tiết thuộc hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra trên thực tế với các dấu hiệu CTTP của một tội phạm ma túy cụ thề được quy định trong Chương XX của BLHS nhằm tìm ra tên tội cho hành vi. Theo nhận thức chung hiện nay, "định tội danh đối với các tội phạm về ma túy là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự được thực hiện bởi các cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện kiêm sát và Cơ quan điều tra) với nội dung là đối chiếu, so sảnh nhằm xác định sự phù họp khách quan giữa hành vi phạm tội về ma túy (dấu hiệu pháp lỷ, hậu quả pháp lý.) xảy ra trên thực tế với các quy định của bộ luật hình sự đê kết tội, quyết định hình phạt và các trách nhiệm pháp lỷ khác đối với người phạm tội”.
Trong phạm vi luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu và đánh giá về định tội danh đối với 04 loại tội phạm: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy 17 (Điêu 249 BLHS); Tội vận chuyên trái phép chât ma túy (Điêu 250 BLHS); Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251 BLHS) và Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256 BLHS). Đặc điếm và ý nghĩa của hoạt động định tội danh các tội 1phạm ♦ V • • CT •• • • về ma túy 1.