Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH HỢP 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC THEO ĐHTH TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 1. Trên thế giới Ở phương Đông từ thời cổ đại, Khổng Tử (551 – 479 - TCN ) trong các tác phẩm : “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu” và “Tứ Thư, Ngũ Kinh” nói chung đều rất xem trọng việc giáo dục đạo đức. Ở phương Tây, nhà triết học Socrates (469 - 399-TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau.
Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức. Aristotle (384-322-TCN) cho rằng không phải hi vọng vào Thượng đế áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức. Trong báo cáo “Educational standards in Japan 1965” của Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ của Nhật Bản đã đề cập rõ về giáo dục đạo đức của họ là : Giáo dục đạo đức nhằm mục đích phát triển công dân Nhật Bản sẽ không bao giờ bị mất tinh thần nhất quán tôn trọng đồng loại của mình,… mọi người phấn đấu cho việc tạo ra một nền văn hóa giàu cá tính, sự phát triển của một quốc gia dân chủ và xã hội, và là người có thể đóng góp tự nguyện cho xã hội vì hòa bình quốc tế. Cũng trong báo cáo này, người Nhật đã chỉ ra nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh ở tiểu học Trang 7 Luan van các vấn đề về sức khỏe, phát triển khả năng tự lực, cách giao tiếp, giữ vệ sinh môi trường, sử dụng tiền có hiệu quả và nhận ra giá trị của thời gian… Đồng thời chính báo cáo này cũng chỉ ra hình thức giáo dục đạo đức của các quốc gia khác trong đó có Liên Xô.
Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học ở Liên Xô không tập trung vào một môn học riêng biệt mà được đưa ra thông qua toàn bộ chương trình giảng dạy. Vào năm 1976, trên thế giới đã thành lập Hiệp hội Giáo dục Đạo đức (The Association for Moral Education-AME). Hiệp hội Giáo dục đạo đức cung cấp cho các chuyên gia nghiên cứu các thông số đạo đức của giáo dục lí thuyết và thực hành. Hiệp hội nhằm mục đích tăng cường giao tiếp, hợp tác, đào tạo phát triển chương trình giảng dạy, chương trình và nghiên cứu kết nối lí thuyết với thực hành giảng dạy đạo đức của tất cả các quốc gia thành viên.
Hội nghị được tổ chức hằng năm tại đại học Utrecht - Hà Lan nhằm cung cấp cho các thành viên AME cơ hội tuyệt vời để thảo luận trong lĩnh vực phát triển đạo đức và giáo dục đạo đức với các đồng nghiệp từ khắp nơi trên thế giới. Những Hội nghị thường được tài trợ bởi các trường đại học nổi tiếng như Đại học Glasgow – Scotland, Đại học Albert Duncan – Mĩ, Đại học Utrecht - Hà Lan, Đại học Sun Yat Sen - Trung Quốc, Đại học Bắc Texas – Thụy Sĩ …. được tiến hành ở Bắc Mỹ và ở các nước trên các châu lục khác. Hội nghị thường niên thứ 38 của Hiệp hội sẽ tổ chức vào ngày 8-10/11/2012 tại San Antonio Texas, Thụy Sĩ.
Hằng năm, Hiệp hội sẽ trao giải thưởng cho các luận án tiến sĩ kiệt xuất về phát triển đạo đức, nhận thức đạo đức hay giáo dục đạo đức. AME mời tiến sĩ tất cả các lĩnh vực dự thi, bao gồm cả tâm lí học, triết học, sư phạm, nghiên cứu văn hóa … AME mời làm luận văn trong cả tiếng Anh và ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh của tiến sĩ bất cứ quốc tịch nào. Trang 8 Luan van Ngoài ra, trong luận văn với chủ đề “Moral Education in the Japanese Primary School Curricular Revision at the Turn of the Twenty-first Century : Aiming at a Rich and Beautiful Kokoro” (Cải cách chương trình chính về giáo dục đạo đức trong trường tiểu học ở Nhật Bản của những năm đầu thế kỉ XX nhằm làm cho Kokoro giàu và đẹp) của Päivi Poukka do trường đại học Helsinki công bố vào ngày 1 tháng 4 năm 2011. Đây là luận văn nghiên cứu xem xét các giá trị giáo dục trong các trường học của Nhật Bản vào lúc bắt đầu của thiên niên kỉ.
Trên cơ sở đó luận văn xem xét đến từng góc độ của việc giáo dục đạo đức, từ đó đưa ra những quan điểm cải cách nhằm mang lại hiệu quả cao góp phần làm cho xã hội giàu và đẹp. Tích hợp là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực. Lí thuyết tích hợp lần đầu tiên được đề xướng bởi Ken Wilber. Lí thuyết tích hợp được hình dung như là một lí thuyết về mọi sự vật và cung cấp một đường hướng kết hợp nhiều mô thức rời rạc lại thành một mạng hoạt động phức hợp.
Lí thuyết tích hợp đã được áp dụng trong hơn 35 lĩnh vực chuyên môn và học thuật khác nhau như Lí thuyết tích hợp thông tin (Information Integration Theory) được đề xuất bởi Norman H.Anderson giai đoạn 1960 – 1970. Lí thuyết tích hợp tính năng (Feature Integration Theory) được đề xuất bởi Anne Treisman và Garry Gelade năm 1980. Đây là lí thuyết quan tâm đến sự phát triển sự chú ý. Năm 1998, nhà văn Mĩ Ken Wiber thành lập The Intergral Institule với mục đích thu thập và cố gắng tích hợp các quan điểm khác nhau được tìm thấy trong một số lĩnh vực chính của kiến thức như TH tâm lí, TH kinh doanh, TH chính trị, TH y học, TH giáo dục, TH sinh thái và phát triển bền vững, TH pháp luật và hình sự, TH nghệ thuật, TH tâm linh … Tóm lại, những quan điểm có thể được tích hợp để tạo ra một phiên bản hoàn chỉnh và chính xác hơn thực tại.
Trong lĩnh vực khoa học giáo dục, khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kì khai sáng, dùng để chỉ một quan niệm GD toàn Trang 9 Luan van diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối. Tích hợp giáo dục bắt đầu vào năm 1994 do Helen Pearson khởi xướng khi bà được yêu cầu phát triển chương trình giáo dục cho Trường Kingsway, New Zealand. Hiện tại, các tài liệu về chương trình giảng dạy tích hợp của Helen Pearson đang được phổ biến ở nhiều quốc gia khác. Như các nhà nghiên cứu giáo dục khác khi nghiên cứu về quan điểm tích hợp, Xavier Roegiers (1996) đã thành công với công trình nghiên cứu “Khoa sư phạm tích hợp hay cần làm thế nào để phát triển năng lực ở các trường học”.
Trong công trình nghiên cứu của mình, Xavier Roegiers đã nhấn mạnh rằng cần đặt toàn bộ quá trình học tập vào một tình huống có ý nghĩa đối với HS. Việc phát triển những mục tiêu đơn lẻ cần được tích hợp với các quá trình học tập khác trong một tình huống có ý nghĩa với HS. Những tình huống có ý nghĩa phải là những tình huống có vấn đề, có nội dung liên môn, liên quan đến thực tiễn, và khi HS tham gia giải quyết vấn đề đó sẽ hình thành cho mình những kỹ năng, năng lực thực tiễn hay là cơ sở cho quá trình học tập tiếp theo. Vì thế tình huống có vấn đề phải là tình huống tích hợp có ý nghĩa với HS, chứ không phải cái cớ để tích hợp.
Việc tích hợp này nhằm mục đích mang lại cho HS những kỹ năng, năng lực thực tiễn và các quá trình này phải được tiến hành ngay trên lớp học. Tóm lại, TH và ĐHTH trong giáo dục đã xuất hiện gần 20 năm và việc nghiên cứu ĐHTH trong giáo dục hãy còn là đề tài mới. Ở Việt Nam Theo người nghiên cứu thì quá trình giáo dục đạo đức của Việt Nam được chia thành bốn giai đoạn sau : * Giáo dục đạo đức thời kì Bắc thuộc (111 TCN – 939) Giáo dục đạo đức giai đoạn này được chia làm 2 mảng : Giáo dục ở gia đình và giáo dục ở trường học. Trang 10 Luan van - Giáo dục ở gia đình mang nội dung giáo dục lòng yêu nước là chủ yếu.
- Giáo dục ở trường học rất hạn chế với nội dung là tư tưởng của Nho giáo. * Giáo dục đạo đức thời tự chủ (939 – 1861) Giáo dục đạo đức Việt Nam ngoài tư tưởng của Nho giáo còn có tư tưởng Phật giáo. Nhưng nổi bật hơn là tư tưởng của nhà giáo dục Nguyễn Trãi với tác phẩm Gia Huấn Ca. Gia Huấn Ca có nghĩa là bài hát để dạy những người trong nhà, có 796 câu thơ lục bát gồm phần mở đầu có 4 câu thơ và 6 bài ca.
Mặc dù Gia Huấn Ca phảng phất tư tưởng của Nho giáo nhưng Gia Huấn Ca vẫn là một công trình nghiên cứu có tác dụng lớn lao về phương diện giáo dục đạo đức trong gia đình. Tác giả đã trình bày được bổn phận của đủ loại người, nêu lên được những việc phải làm và không nên làm. Những bài học đạo đức này thực tế hơn những nguyên tắc luân lí khô khan của Nho giáo. * Giáo dục đạo đức thời Pháp thuộc (1861 -1945) Người Việt còn ảnh hưởng sâu rộng Nho học.
Năm 1874, trường tiểu học thành lập nhưng chỉ dạy các môn : chữ quốc ngữ, chữ Pháp, chữ Hán, Toán, Khoa học. Việc giáo dục đạo đức cho học sinh có thể được tích hợp nhỏ vào các môn học khác. Năm 1907 Tân đính Luân lý Giáo khoa thư ra đời. Đây là một tập sách giáo khoa bằng tiếng Hán do nhóm giáo viên trường Đông Kinh Nghĩa Thục soạn và do trường ấn hành.
Tập sách giáo khoa này dùng làm tài liệu giảng dạy, được phát hành lần đầu với mục đích tuyên truyền tư tưởng Duy Tân (đổi mới) và giáo dục công dân về những trách nhiệm của từng cá nhân với môi trường chung quanh. Trang 11 Luan van Ngoài ra còn có Việt Nam thi văn Hợp Tuyển của Giáo sư Dương Quảng Hàm xuất bản 1943 có lồng một số bài thơ mang nội dung giáo dục đạo đức như “Mẹ dạy con cái”, “Thói hay chế giễu”, “Luân lí của đạo giáo” và có cả “Gia Huấn Ca” của Nguyễn Trãi ở bậc trung học. * Giáo dục đạo đức thời độc lập (1945 – nay) - Giai đoạn 1954 -1975, chương trình giảng dạy ở tiểu học đã có môn công dân giáo dục - Giai đoạn 1975 - nay, môn công dân giáo dục ở tiểu học đổi thành môn đạo đức ở tiểu học và giáo dục công dân ở trung học. Nội dung môn học có đào sâu, nghiên cứu kĩ, gần thực tế hơn.