Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử. Thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử tỉnh Bình Dương giai đoạn 2007-2013. Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử tại tỉnh Bình Dương đến năm 2020.
8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH ĐIỆN TỬ 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VÀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH ĐIỆN TỬ 1. Khái niệm công nghiệp hỗ trợ Cụm từ “Supporting Industry” (công nghiệp hỗ trợ) xuất hiện lần đầu tiên trong “ Sách trắng về hợp tác kinh tế năm 1985” của Bộ Công thương Nhật Bản (MITI, nay là Bộ Kinh tế, Công nghiệp và Thương mại ). Trong tài liệu này, CNHT được dùng để chỉ những doanh nghiệp có đóng góp cho việc phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nước châu Á, hay các công ty sản xuất linh phụ kiện.
Năm 1987, MITI tiếp tục giới thiệu về thuật ngữ này với định nghĩa chính thức là các ngành cung cấp những gì cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh phụ kiện và hàng hoá, cho các ngành công nghiệp lắp ráp. Hiện nay, ở Nhật Bản, CNHT được hiểu là “ một nhóm các hoạt động công nghiệp cung ứng các đầu vào trung gian ( không phải nguyên vật liệu thô và các sản phẩm hoàn chỉnh ) cho các ngành công nghiệp hạ nguồn”. [18] Nói cách khác, CNHT nằm ở phần giữa của quá trình sản xuất, từ thượng nguồn xuống đến hạ nguồn. Đặc biệt, CNHT dựa vào một số công đoạn sản xuất nhất định, phục vụ một số ngành công nghiệp nhất định tương đối tương đồng nhau (hình 1.
Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đều xác định CNHT theo cách này, bằng cách dựa trên các công đoạn sản xuất như dập, đúc, rèn, hàn, gia công cơ khí, khuôn mẫu… bao gồm các sản phẩm chủ yếu liên quan đến 3 lĩnh vực chính: các linh kiện kim loại, các linh kiện nhựa và cao su, các linh kiện điện-điện tử. Khái niệm CNHT của Nhật Bản. Ô tô Xe máy Đồ gia dụng Đồ điện tử Các nhà lắp ráp có yêu cầu về linh phụ kiện tương tự nhau Phụ tùng, linh kiện: Kim loại, nhựa, cao su, điện. Công nghiệp hỗ trợ Dập Hàn Rèn Đúc Mạ Gia công cơ Khuôn Xử lý khí mẫu nhiệt Nguồn: [5].
Trần Văn Thọ cho rằng, CNHT chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính. Cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm…, và cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế.17] Ở Việt nam, cụm từ “công nghiệp phụ trợ” bắt đầu được nhắc tới một cách tương đối rộng rãi từ năm 2003. Tuy nhiên, thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ” đã được chính thức hoá để chỉ vấn đề này, lần đầu ở Việt Nam từ năm 2007, trong “Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đến 2010, tầm nhìn đến 2020” do Bộ Công nghiệp (cũ), nay là Bộ Công Thương soạn thảo và Thủ tướng phê duyệt. Trong đó, CNHT được định nghĩa: Hệ thống công nghiệp hỗ trợ là hệ 10 thống các nhà sản xuất (sản phẩm) và công nghệ sản xuất có khả năng tích hợp theo chiều ngang, cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng… cho khâu lắp ráp cuối cùng.8] Trong bản quy hoạch này, CNHT được phân chia thành hai thành phần chính, phần cứng liên quan đến sản xuất và phần mềm là hệ thống dịch vụ công nghiệp và marketing.
Như vậy, có thể thấy khái niệm của Việt Nam có nét khác biệt so với các khái niệm ở các quốc gia khác: - CNHT được xác định rộng hơn, từ khâu sản xuất nguyên vật liệu đến cả các dịch vụ công nghiệp. Có thể thấy khái niệm này làm cho các ngành CNHT mở rộng ra rất nhiều, không chỉ bao gồm một số lĩnh vực công nghiệp, không chỉ tập trung các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà cả các doanh nghiệp lớn. - Các ngành CNHT được xác định trên cơ sở những ngành công nghiệp hạ nguồn (ngành lắp ráp ô tô, cơ khí, dệt may, da giày, điện tử) chứ không xác định trên đặc thù sản phẩm của ngành sản xuất hỗ trợ (cơ khí chế tạo, nhựa, điện tử…). Theo đề tài, thuật ngữ CNHT trong nghiên cứu này chỉ một bộ phận các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào quy trình tạo ra những linh phụ kiện phục vụ cho hoạt động lắp ráp góp phần hình thành các sản phẩm hoàn thiện cuối cùng cho người tiêu dùng.
Sản phẩm CNHT chủ yếu bao gồm một số lĩnh vực như chế tạo khung kim loại, ép nhựa và cao su, chi tiết linh kiện điện và điện tử. Nhìn chung, các doanh nghiệp sản xuất CNHT hầu hết có quy mô nhỏ và vừa, điều kiện hợp đồng chặt chẽ và tương đối phụ thuộc lẫn nhau. Đặc điểm công nghiệp hỗ trợ - Sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ là tất yếu của quá trình phân công lao động: Tại các nước phát triển, khi quy mô sản xuất đạt đến một mức độ nhất định, quá trình phân ly các hoạt động lắp ráp và sản xuất linh kiện thành những công đoạn độc lập, chuyên môn hóa sẽ xuất hiện. Quá trình này là tất yếu và gắn liền với sự thay đổi trong phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa dấn đến sự ra đời của các ngành công nghiệp hỗ trợ.
Còn tại các nước đang phát triển, sự xuất hiện 11 của công nghiệp lắp ráp đã kéo theo sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ. - Công nghiệp hỗ trợ là ngành phức tạp và rộng lớn: Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, các sản phẩm sản xuất ra ngày càng tinh vi hơn, mỗi sản phẩm lại có vô vàn các chi tiết hợp thành. Do đó, để sản xuất một sản phẩm hoàn chỉnh cần sự tham gia của nhiều doanh nghiệp, nhiều ngành khác nhau. - Công nghiệp hỗ trợ góp phần tạo nên chuỗi giá trị: Khi một ngành công nghiệp sản xuất hay lắp ráp một sản phẩm phát triển, nó cần đến một hệ thống các ngành công nghiệp hỗ trợ để cung cấp các chi tiết sản phẩm đó.
Đồng thời, các doanh nghiệp được coi là phụ trợ cho sản phẩm đó lại cần các doanh nghiệp khác phụ trợ cho mình. Như vậy, chỉ với một sản phẩm, chuỗi giá trị đã kéo dài và mở rộng ra hầu hết các ngành công nghiệp cơ bản và tạo ra giá trị cho nhiều ngành công nghiệp khác. - Công nghiệp hỗ trợ không phải là ngành " Công nghiệp phụ ": Nói đến công nghiệp hỗ trợ mọi người thường nghĩ đến các ngành sản xuất phụ tùng, linh kiện, nguyên phụ liệu cho các ngành lắp ráp như ô tô, xe máy, điện tử, dệt may. những ngành thường được coi là ngành công nghiệp chính.
Trên thực tế, công nghiệp hỗ trợ thường bị coi là ngành công nghiệp phụ, điều này hoàn toàn không hợp lý. Về mặt lý luận, công nghiệp hỗ trợ có thể được xem là ngành đối xứng với các ngành công nghiệp lắp ráp, có vai trò như các ngành công nghiệp khác. Thành phần của công nghiệp hỗ trợ Theo Bộ Công Thương, CNHT Việt Nam được phân chia thành hai phần chính [5, tr.16]: Phần cứng- là các cơ sở sản xuất nguyên vật liệu và linh phụ kiện lắp ráp; phần mềm- bao gồm các bộ phận thiết kế sản phẩm, mua sắm, hệ thống dịch vụ công nghiệp và marketing… Thực tế cho thấy, sản xuất hỗ trợ đối với các ngành công nghiệp khác nhau có thể bao gồm nhiều tầng cấp, thứ bậc khác nhau. Một nhà sản xuất lắp ráp có thể có nhiều đối tượng hợp tác chuyên sản xuất và cung ứng các sản phẩm hỗ trợ : - Các đối tượng lớp thứ nhất là các cơ sở sản xuất tin cẩn nhất, được đầu tư vốn và chỉ chuyên sản xuất các sản phẩm riêng của chính hãng thiết kế, đặt hàng, 12 thường gọi là hỗ trợ “ruột”.
Các chi tiết linh kiện cung ứng liên quan đến loại này thường là các linh kiện cao cấp, nắm giữ bí quyết của sản phẩm, tạo ra giá trị gia tăng cao cho sản phẩm cuối cùng. - Nhóm đối tượng lớp thứ hai thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ độc lập, chuyên cung cấp các chi tiết, linh kiện quan trọng cho các nhà cung ứng ở đối tượng thứ nhất, hoặc cung ứng thẳng cho các nhà lắp ráp theo một hợp đồng tương đối thường xuyên. - Nhóm đối tượng hỗ trợ lớp thứ 3 là những cơ sở sản xuất các sản phẩm hỗ trợ hàng loạt, mua sẵn, quan hệ với nhà lắp ráp theo kiểu mua bán thông thường. Phần lớn là các chi tiết đơn giản, rẻ tiền, cồng kềnh, có giá trị gia tăng thấp với hàm lượng nguyên vật liệu trong sản phẩm cao, được các công ty lắp ráp đa quốc gia đặt hàng ngay tại quốc gia sở tại mà họ lắp ráp hoặc tiêu thụ sản phẩm cuối cùng.
Như vậy, thông thường các nhà lắp ráp có thể có 3-4 lớp doanh nghiệp cung ứng hỗ trợ. Trên thực tế, có những nhà lắp ráp còn có nhiều tầng cấp hỗ trợ hơn nữa. Điều này phụ thuộc nhiều vào đặc thù ngành công nghiệp, sản phẩm cuối cùng, thị trường tiêu thụ, chuỗi giá trị sản xuất ra sản phẩm, chuỗi cung ứng của sản phẩm cũng như đặc điểm về quốc tịch của nhà lắp ráp [16, tr. Tổng quan về ngành công nghiệp điện tử 1.
Nhận diện ngành công nghiệp điện tử Công nghiệp điện tử được nhận diện như ngành công nghiệp sản xuất ra các loại thiết bị có chức năng xử lý tín hiệu điện và các loại phụ tùng linh kiện của những thiết bị đó. Bao gồm: Điện tử tiêu dùng, điện tử y tế, điện tử công nghiệp, điện tử viễn thông. Ở mức độ tổng quát hơn, công nghiệp điện tử được định nghĩa gồm những doanh nghiệp thiết kế, sản xuất, và/ hoặc phân phối các trang thiết bị điện tử gồm: Chất bán dẫn, máy móc sử dụng vật liệu và thiết bị bán dẫn, các thiết bị thử nghiệm, kiểm định và đo lường; dụng cụ khoa học, kỹ thuật; các bộ phận điện - điện tử. Các điều kiện phát triển ngành công nghiệp điện tử Thứ nhất, sự tích tụ tương đối nguồn vốn đầu tư nước ngoài ( FDI ) trong ngành điện tử.
Trong quá trình cơ cấu lại chuỗi giá trị, các công ty dẫn đầu ( sở hữu những thương hiệu lớn ) sẽ thực hiện chuyển dịch các cơ sở sản xuất sang những vùng có nguồn nhân lực giá rẻ chất lượng cao. Sự chuyển dịch cơ sở sản xuất tất yếu phải gắn với đầu tư FDI.