Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài

Trong thế kỷ XXI, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ kết hợp với nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi sâu sắc cơ cấu việc làm, đồng thời xuất hiện nhiều ngành nghề mới khiến giới trẻ gặp không ít khó khăn trong việc lựa chọn hướng đi nghề nghiệp. Vấn đề việc làm của thanh niên đã trở thành một thách thức mang tính toàn cầu; Bộ trưởng Việc làm Anh Quốc Chris Grayling từng ví thực trạng này như "những quả bom nổ chậm".

Tại Việt Nam, các số liệu thống kê phản ánh rõ nét tính cấp thiết của vấn đề định hướng nghề nghiệp:

  • Năm 2015, theo điều tra của Viện Nghiên cứu Thanh niên, 70% sinh viên Việt Nam xác nhận lo lắng hàng đầu của họ là vấn đề việc làm.
  • Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có tới 63% sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng ra trường không có việc làm; 37% sinh viên có việc làm nhưng đa số làm trái nghề hoặc phải qua đào tạo lại.
  • Một khảo sát năm 2014 tại Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM cho thấy: 52,6% sinh viên năm cuối chưa có kế hoạch tìm việc; 46,3% sinh viên chưa có ý định tự trau dồi về nghề nghiệp; 44,8% sinh viên không hình dung được nghề nghiệp của mình sau 5 năm.
  • Cuộc khảo sát năm 2011 do Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích Chính sách (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội) thực hiện trên quy mô gần 3.000 cựu sinh viên thuộc 5 khóa tốt nghiệp chỉ ra 70% sinh viên chưa có định hướng cụ thể cho nghề nghiệp sau khi ra trường.

Đối với ngành Tâm lý học — một ngành khoa học ứng dụng có vai trò thiết thực trong đời sống xã hội nhưng còn tương đối non trẻ tại Việt Nam — việc trang bị nhận thức và định hướng nghề nghiệp đúng đắn cho sinh viên năm cuối là yêu cầu cấp bách nhằm giúp người học có tâm thế vững vàng trước khi gia nhập thị trường lao động.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Xác định thực trạng định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả định hướng nghề cho nhóm đối tượng này.
  • Giả thuyết nghiên cứu: Sinh viên năm 4 chuyên ngành Tâm lý học tại TP.HCM có mức độ lựa chọn nghề còn thấp; một bộ phận sinh viên vẫn chưa hình thành định hướng nghề rõ ràng.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học.
    2. Xác định thực trạng định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học tại TP.HCM trên các phương diện: nhận thức, thái độ, hành vi và các yếu tố ảnh hưởng.
    3. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả định hướng nghề cho sinh viên năm 4 chuyên ngành Tâm lý học.

Đối tượng, khách thể và giới hạn nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học.
  • Khách thể nghiên cứu: Sinh viên hệ chính quy năm thứ 4 ngành Tâm lý học tại TP.HCM.
  • Phạm vi và giới hạn nghiên cứu:
    • Về nội dung: Tập trung vào định hướng nghề của sinh viên năm 4 chuyên ngành Tâm lý học.
    • Về địa bàn và khách thể khảo sát: Khảo sát sinh viên chính quy năm 4 (niên khóa 2017 – 2018) tại 3 cơ sở đào tạo ở TP.HCM gồm: Trường Đại học Sư phạm TP.HCM (ĐHSP TPHCM), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHKHXH&NV) và Trường Đại học Văn Hiến (ĐHVH).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm nền tảng

  • Khái niệm định hướng nghề (ĐHN): Tác giả tổng hợp quan điểm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước (Phạm Thị Thúy Hằng, Vũ Dũng, Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Văn Lũy – Lê Quang Sơn, E.A. Klimov), xác định: Định hướng nghề là hành động xác định một hướng đi cụ thể cho hoạt động lao động dựa trên cơ sở nhận thức đúng đắn, thái độ tích cực, cân nhắc kỹ những đặc điểm liên quan đến nghề sao cho phù hợp nhất với mọi điều kiện hoàn cảnh khách quan và chủ quan của chủ thể.
  • Khái niệm nghề và phân loại nghề: Nghề là một lĩnh vực lao động xã hội đòi hỏi quá trình đào tạo chuyên biệt với 4 đặc trưng cơ bản (đối tượng, công cụ, mục đích và điều kiện lao động). Nghiên cứu viện dẫn các mô hình phân loại nghề:
    • Phân loại 7 nhóm nghề của Phạm Tất Dong (2002);
    • Phân loại 5 nhóm nghề dựa trên đối tượng lao động của E.A. Klimov;
    • Mô hình "Tam giác hướng nghiệp" của K.K. Platonov (Đặc điểm cá nhân – Tính chất nghề nghiệp – Nhu cầu xã hội);
    • Lý thuyết về các kiểu nhân cách và sở thích nghề nghiệp của J. Holland (1940, 1974).
  • Phân loại nghề nghiệp trong Tâm lý học:
    • Trên thế giới: Tác giả hệ thống hóa 20 lĩnh vực nghề nghiệp chuyên sâu trong Tâm lý học: Tâm lý Lâm sàng, Tâm lý học Cộng đồng, Tâm lý học Tham vấn, Tâm lý học Phát triển, Tâm lý học Giáo dục, Tâm lý học Thực nghiệm, Tâm lý học Tổ chức/Công nghiệp, Tâm lý học Thần kinh, Tâm lý học Định hướng và Đo lường, Tâm lý Học đường, Tâm lý học Xã hội, Tâm lý học Gia đình, Tâm lý học Sức khỏe, Tâm lý học Lão hóa, Tâm lý học Pháp lý, Tâm lý học Phụ nữ và Nam giới, Tâm lý học Thể thao, Tâm lý học Xuyên văn hóa, Tâm lý học Phục hồi chức năng, và Tâm lý học Tiến hóa.
    • Tại Việt Nam: Nghề Tâm lý học mang mã số 2445 (nhóm nghề chuyên môn kỹ thuật bậc cao thuộc lĩnh vực KHXH theo Danh mục nghề Tổng cục Thống kê ban hành năm 2010). Căn cứ mục tiêu đào tạo tại 3 trường khảo sát, tác giả quy về 5 nhóm nghề chính:
      1. Nhóm nghề Tham vấn – Trị liệu tâm lý (TV – TL)
      2. Nhóm nghề Quản lý – Tổ chức nhân sự (QL – TCNS)
      3. Nhóm nghề Giảng dạy về tâm lý
      4. Nhóm nghề Nghiên cứu khoa học tâm lý (NCKH)
      5. Nhóm nghề khác có ứng dụng tâm lý học (UDTLH)
  • Đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên năm 4: Sinh viên lứa tuổi 17–25 tuổi (dựa theo quan điểm của S.L. Rubinstein và các nhà tâm lý học giáo dục) có sự phát triển cao về tự ý thức và tự đánh giá bản thân (qua 4 đặc điểm: có chủ kiến đối chiếu chuẩn xã hội, phản tỉnh phẩm chất tâm lý, tự đánh giá có chiều sâu/khái quát, so sánh mức độ kỳ vọng với kết quả thực tế). Hoạt động chủ đạo là chuẩn bị nghề nghiệp, trải qua giai đoạn thực tập nghề (giai đoạn 3) để bước sang giai đoạn trực tiếp tham gia thị trường lao động (giai đoạn 4).

Tiêu chí và cấu trúc đánh giá định hướng nghề

Cấu trúc đánh giá định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học được thiết lập dựa trên 3 thành tố:

Thành tố ĐHN Nội dung và tiêu chí thành phần
Nhận thức - Nhận thức về bản thân: Tự đánh giá 6 phẩm chất hiện có (Lòng yêu nghề/trách nhiệm; Kỷ luật cao; Cầu tiến/ham học hỏi; Năng động/linh hoạt; Thấu cảm/đồng cảm; Thế giới quan khoa học) và 7 năng lực hiện có (Hợp tác; Tổ chức/lập kế hoạch; Tự kiểm tra/đánh giá; Giảng dạy/truyền đạt; Tư vấn/tham vấn/trị liệu; Xây dựng và sử dụng test; Ứng dụng TLH vào truyền thông/sự kiện...).
- Nhận thức về nghề: Hiểu biết về mục đích, đối tượng, yêu cầu phẩm chất và năng lực của 5 nhóm nghề TLH; nhận thức về mức độ phù hợp bản thân và nhu cầu xã hội.
Thái độ Đánh giá dựa trên 3 nhóm giá trị:
- Hứng thú: Thích thú tiếp nhận kiến thức chuyên ngành, say mê khám phá tri thức mới, quan tâm đến các vấn đề tâm lý học.
- Tình cảm: Bức xúc trước các vấn nạn trong nghề, hài lòng khi hoàn thành nhiệm vụ, tích cực tự giác học tập, xem khó khăn là cơ hội thể hiện lòng yêu nghề.
- Niềm tin: Thỏa mãn với nghề đang học, coi trọng gìn giữ giá trị nghề, trau dồi thế giới quan khoa học.
Hành vi Hệ thống 21 hành vi cân nhắc và rèn luyện: Đi học đầy đủ/đúng giờ; Tập trung nghe giảng; Phát biểu xây dựng bài; Tham gia ngoại khóa; Làm test định hướng; Lập kế hoạch học tập; Đọc thêm sách/tài liệu; Trao đổi với giảng viên/bạn bè; Hoàn thành nhiệm vụ rèn luyện; Tìm hiểu trước môn học; Thu thập thông tin nghề; Phân tích yêu cầu ngành nghề; Vận dụng kiến thức vào thực tế; Tham gia hoạt động xã hội/từ thiện; Gặp gỡ cựu sinh viên; Tham quan cơ sở thực tế; Tham dự tọa đàm/hội thảo; Thiết lập quan hệ chuyên môn; Tự nâng cao chuyên môn; Bồi dưỡng kỹ năng bổ trợ; Tự đánh giá kiểm tra mức độ phù hợp bản thân với nghề.

Các yếu tố ảnh hưởng

  • Yếu tố khách quan: Gia đình (truyền thống, định hướng của cha mẹ, điều kiện kinh tế); Nhà trường (môi trường học tập, uy tín đào tạo, hoạt động hướng nghiệp, chương trình giảng dạy); Xã hội (ảnh hưởng của bạn bè, xu hướng thị trường lao động, nhu cầu tuyển dụng thực tế, sự tư vấn của chuyên gia).
  • Yếu tố chủ quan: Sở thích nghề nghiệp, Hứng thú, Tính cách, Năng lực, Nhu cầu và mục đích nghề nghiệp, Sức khỏe (thể chất và tinh thần/chí khí tâm lực).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, đọc, phân tích và tổng hợp các công trình khoa học trong và ngoài nước để xây dựng khung lý luận về định hướng nghề.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Phương pháp nghiên cứu thực tiễn chủ đạo; khảo sát bằng bảng hỏi ngẫu nhiên trên $N = 250$ sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học tại 3 trường đại học trên địa bàn TP.HCM.
  • Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý dữ liệu, kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (Bảng 2.2), tính điểm trung bình (ĐTB), phân tích tương quan và kiểm định sự khác biệt giữa các biến số nhân khẩu học (trường, giới tính, hộ khẩu).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về định hướng nghề

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu định hướng nghề trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Lịch sử quốc tế: Ghi nhận quá trình hình thành khoa học hướng nghiệp từ Mỹ (giai đoạn 1850–1940 với phòng tư vấn nghề đầu tiên của Frank Parsons năm 1908 tại Boston), Pháp (cuốn sách "Hướng dẫn chọn nghề" năm 1948), các nghiên cứu của J. Holland (1940, 1974), Meir, Melamed và Dinur (1995); các nghiên cứu tại Phần Lan của H. Perho (động cơ chọn nghề sư phạm), M. Volanen (sự thích ứng nghề nghiệp); các nghiên cứu tại Đức (Viện Nghiên cứu Thanh niên CHDC Đức, 1976); các công trình tâm lý học Liên Xô của N.K. Krupskaya, E.A. Klimov, A.E. Golomshtok, K.K. Platonov, Ph. Smirnov, Ph. Andriev.
  • Lịch sử nghiên cứu tại Việt Nam: Kế thừa các đề tài cấp Bộ và chương trình KHCN cấp Nhà nước từ thập niên 1970–1990 của Trần Thị Minh Đức (1994–1995), Trần Ninh Giang (1994), Thái Duy Duyên (1991–1995), Lê Quang Sơn (1989), Đặng Danh Ánh, Phạm Tất Dong (1973, 1977, 1978, 1994, 2002), Chu Văn Thảo, Trần Đình Chiến (2008), Nguyễn Quang Uẩn, Lê Thị Ngọc Giàu (2015), Nguyễn Ngọc Hồng Trúc (2015), Trần Thị Dương Liễu (2014) và Phạm Thị Thúy Hằng (2015).
  • Tác giả phân tích cấu trúc tâm lý của sinh viên năm cuối, xác lập khung 3 thành tố định hướng nghề (Nhận thức – Thái độ – Hành vi) cùng 2 nhóm yếu tố ảnh hưởng (chủ quan và khách quan), làm căn cứ xây dựng công cụ khảo sát thực trạng.

Chương 2: Thực trạng định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học ở TP HCM

Chương 2 trình bày quy trình tổ chức khảo sát và các kết quả định lượng thu được từ $N = 250$ sinh viên năm cuối thuộc 3 đơn vị đào tạo (ĐH Sư phạm TP.HCM, ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn, ĐH Văn Hiến):

  1. Thực trạng nhận thức:
    • Đánh giá mức độ nhận thức của sinh viên về các khó khăn trong quá trình định hướng nghề (Bảng 2.3).
    • Đánh giá mức độ hiểu biết về các vị trí việc làm sau khi tốt nghiệp và sự lựa chọn nghề nghiệp cụ thể theo từng công việc (Bảng 2.4, Bảng 2.5).
    • Đánh giá nhận thức của sinh viên về các yêu cầu phẩm chất và năng lực cần thiết đối với 5 nhóm nghề chuyên môn: Nhóm Giảng dạy (Bảng 2.6, 2.11); Nhóm Tham vấn – Trị liệu (Bảng 2.7, 2.12); Nhóm Nghiên cứu khoa học (Bảng 2.8, 2.13); Nhóm Quản lý – Tổ chức nhân sự (Bảng 2.9, 2.14); Nhóm khác có ứng dụng TLH (Bảng 2.10, 2.15).
    • Kết quả tự đánh giá của sinh viên về phẩm chất và năng lực hiện có của bản thân (Bảng 2.16, 2.17).
    • So sánh mức độ nhận thức về yêu cầu nghề nghiệp theo các tham số nhân khẩu học: cơ sở đào tạo (Bảng 2.18), giới tính (Bảng 2.19), và hộ khẩu (Bảng 2.20).
  2. Thực trạng thái độ:
    • Kết quả biểu hiện thái độ của sinh viên đối với các hoạt động định hướng nghề nghiệp thông qua 3 thành tố: Hứng thú, Tình cảm và Niềm tin (Bảng 2.21).
    • So sánh sự khác biệt trong biểu hiện thái độ theo các biến số nhân khẩu học (Bảng 2.22).
  3. Thực trạng hành vi và mức độ cân nhắc:
    • Kết quả về sự cân nhắc của sinh viên trong quá trình định hướng nghề (Bảng 2.23).
    • Biểu hiện hành vi định hướng nghề cụ thể của sinh viên năm 4 (Bảng 2.24) và kết quả so sánh biểu hiện hành vi theo các tham số nghiên cứu (Bảng 2.25).
  4. Tương quan và các yếu tố chi phối:
    • Mức độ tương quan tuyến tính giữa 3 thành tố Nhận thức, Thái độ và Hành vi trong hoạt động định hướng nghề của sinh viên (Bảng 2.26).
    • Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố khách quan và chủ quan đến định hướng nghề (Bảng 2.27) và so sánh các yếu tố ảnh hưởng theo từng tham số nghiên cứu (Bảng 2.28).

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Về mặt lý luận: Công trình đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về định hướng nghề, phân định rõ 20 phân ngành Tâm lý học quốc tế và 5 nhóm nghề nghiệp ứng dụng tại Việt Nam (mã nghề 2445); xây dựng bộ công cụ đo lường thực nghiệm gồm 3 thành tố (Nhận thức, Thái độ, Hành vi) được kiểm định độ tin cậy qua hệ số Cronbach's Alpha.
  • Về mặt thực tiễn: Khóa luận làm rõ bức tranh thực trạng định hướng nghề của sinh viên năm cuối ngành Tâm lý học tại 3 trường đại học lớn ở TP.HCM; đo lường mức độ tương thích giữa nhận thức yêu cầu nghề với tự nhận thức năng lực/phẩm chất bản thân; xác định mức độ tương quan giữa nhận thức, thái độ, hành vi và phân tích các yếu tố chủ quan, khách quan chi phối quyết định chọn nghề.

Giải pháp và khuyến nghị đề xuất

Dựa trên cơ sở lý luận, kết quả khảo sát thực trạng và quá trình trao đổi với sinh viên cùng các chuyên gia tâm lý học, tác giả đề xuất hệ thống biện pháp đồng bộ ở 3 cấp độ:

Cấp độ Nội dung giải pháp chính
Đối với sinh viên - Tích cực nâng cao năng lực tự nhận thức về sở thích, tính cách, năng lực và sức khỏe bản thân.
- Chủ động tìm hiểu thông tin thị trường lao động và yêu cầu chuyên môn của từng nhóm nghề TLH.
- Tăng cường rèn luyện các kỹ năng nghề nghiệp thực tế, tích cực tham gia thực tập nghề và các hoạt động ngoại khóa chuyên môn.
Đối với giảng viên - Lồng ghép định hướng nghề nghiệp, liên hệ thực tiễn ứng dụng vào nội dung từng môn học chuyên ngành.
- Hướng dẫn, hỗ trợ sinh viên trong nghiên cứu khoa học và thực hành kỹ năng nghề.
- Đóng vai trò cố vấn chuyên môn, chia sẻ kinh nghiệm thực tế giúp sinh viên củng cố niềm tin và thái độ nghề nghiệp.
Đối với nhà trường - Hoàn thiện và cập nhật chương trình đào tạo theo hướng tăng cường thời lượng thực hành, trải nghiệm thực tế.
- Thiết lập mạng lưới liên kết với các cơ sở tuyển dụng, bệnh viện, trường học, doanh nghiệp để tạo môi trường thực tập chuyên nghiệp cho sinh viên.
- Tổ chức định kỳ các buổi tọa đàm, hội thảo hướng nghiệp và hoạt động giao lưu với cựu sinh viên thành đạt.

Đóng góp mới của đề tài

Khóa luận là công trình nghiên cứu đầu tiên đi sâu khảo sát chuyên biệt đối tượng sinh viên năm thứ 4 ngành Tâm lý học tại TP.HCM trong giai đoạn then chốt chuẩn bị tốt nghiệp và gia nhập guồng máy sản xuất của xã hội. Đề tài đã lấp khoảng trống của các nghiên cứu trước đây (vốn chủ yếu tập trung vào học sinh THPT hoặc sinh viên các năm đầu/sinh viên nói chung) bằng việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá sát thực với 5 nhóm nghề chuyên môn của cử nhân Tâm lý học.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được giới hạn khảo sát trên mẫu $N = 250$ sinh viên chính quy năm thứ 4 niên khóa 2017 – 2018 tại 3 trường đại học trên địa bàn TP.HCM (ĐHSP TP.HCM, ĐH KHXH&NV, ĐH Văn Hiến). Do phạm vi không gian và quy mô mẫu có giới hạn, kết quả chưa bao quát được sinh viên ngành Tâm lý học ở các khu vực địa lý khác cũng như các hệ đào tạo khác (vừa làm vừa học, liên thông).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng quy mô khảo sát trên phạm vi toàn quốc và đa dạng hóa các cơ sở đào tạo có ngành Tâm lý học.
    • Thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) từ giai đoạn sinh viên năm cuối đến giai đoạn sau tốt nghiệp (1–3 năm đi làm) để kiểm chứng mức độ thích ứng và độ bền vững của định hướng nghề.
    • Thiết kế và thử nghiệm các chương trình can thiệp, tư vấn hướng nghiệp chuyên sâu cho sinh viên ngành Tâm lý học ngay tại giảng đường đại học.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên ngành Tâm lý học: Tài liệu giúp người học năm cuối tự đối chiếu, đánh giá mức độ sẵn sàng về phẩm chất, năng lực và thái độ nghề nghiệp đối với 5 nhóm vị trí việc làm sau khi ra trường.
    • Giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục: Cung cấp dữ liệu thực chứng phục vụ công tác đổi mới phương pháp giảng dạy, hoàn thiện chương trình đào tạo gắn liền nhu cầu thực tế và nâng cao hiệu quả công tác cố vấn học tập, hướng nghiệp.
    • Nhà nghiên cứu: Nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho các đề tài nghiên cứu về Tâm lý học lao động, Tâm lý học lứa tuổi - sư phạm và hướng nghiệp tại Việt Nam.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Tổng quan lý luận chi tiết về 20 phân ngành Tâm lý học quốc tế và khung 5 nhóm nghề TLH ứng dụng tại Việt Nam (mã 2445).
    • Khung tiêu chí đo lường định hướng nghề 3 thành tố (Nhận thức – Thái độ – Hành vi) với hệ thống 6 phẩm chất, 7 năng lực và 21 biểu hiện hành vi cụ thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Mục tiêu và khách thể khảo sát của khóa luận là gì?

Khóa luận nhằm xác định thực trạng định hướng nghề của sinh viên chính quy năm thứ 4 ngành Tâm lý học (niên khóa 2017 – 2018) tại 3 trường đại học ở TP.HCM gồm: Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, và Trường Đại học Văn Hiến với quy mô mẫu khảo sát ngẫu nhiên $N = 250$ sinh viên, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả định hướng nghề.

2. Định hướng nghề của sinh viên được tác giả cấu trúc thành những thành tố nào?

Định hướng nghề được cấu trúc thành 3 thành tố cốt lõi:

  • Nhận thức: Tự nhận thức về bản thân (6 phẩm chất, 7 năng lực hiện có) và nhận thức về yêu cầu nghề nghiệp cùng nhu cầu xã hội đối với ngành học.
  • Thái độ: Được đánh giá qua 3 nhóm giá trị Hứng thú, Tình cảm và Niềm tin đối với ngành nghề.
  • Hành vi: Thể hiện qua sự cân nhắc kỹ lưỡng và 21 hành vi rèn luyện, học tập, tích lũy kinh nghiệm thực tế.

3. Cử nhân ngành Tâm lý học tại Việt Nam có thể đảm nhận những nhóm nghề chính nào theo phân loại của đề tài?

Căn cứ vào mục tiêu đào tạo tại các trường đại học khảo sát và Danh mục nghề nghiệp Việt Nam (mã 2445), cử nhân Tâm lý học có thể tham gia 5 nhóm nghề chính: (1) Tham vấn – Trị liệu tâm lý; (2) Quản lý – Tổ chức nhân sự; (3) Giảng dạy về tâm lý; (4) Nghiên cứu khoa học tâm lý; (5) Các nhóm nghề khác có ứng dụng tâm lý học (marketing, nghiên cứu thị trường, truyền thông, tổ chức sự kiện, công tác xã hội...).

4. Những phẩm chất và năng lực cốt lõi nào được đưa vào tiêu chí đánh giá sinh viên ngành Tâm lý học?

  • 6 phẩm chất cốt lõi: Lòng yêu nghề và trách nhiệm; Tinh thần kỷ luật cao; Tinh thần cầu tiến/ham học hỏi; Năng động/linh hoạt; Thấu cảm/đồng cảm; Hệ thống thế giới quan khoa học đúng đắn.
  • 7 năng lực cốt lõi: Năng lực hợp tác; Năng lực tổ chức/lập kế hoạch; Năng lực tự kiểm tra/đánh giá; Năng lực giảng dạy/truyền đạt; Năng lực tư vấn/tham vấn/trị liệu; Năng lực xây dựng và sử dụng test; Năng lực ứng dụng thành tựu tâm lý vào các lĩnh vực liên quan.

5. Những yếu tố nào chi phối định hướng nghề của sinh viên năm cuối theo nghiên cứu?

Quyết định định hướng nghề của sinh viên chịu tác động đan xen từ 2 nhóm yếu tố:

  • Yếu tố khách quan: Gia đình (kinh tế, truyền thống, kỳ vọng), Nhà trường (chương trình, phương pháp giảng dạy, môi trường rèn luyện), Xã hội (thị trường lao động, xu hướng tuyển dụng, ảnh hưởng bạn bè, tư vấn chuyên gia).
  • Yếu tố chủ quan: Giữ vai trò quyết định, bao gồm sở thích nghề nghiệp, hứng thú, tính cách, năng lực bản thân, nhu cầu/mục đích nghề nghiệp và sức khỏe (thể chất lẫn tinh thần).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Hà đã giải quyết một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về định hướng nghề của sinh viên năm cuối ngành Tâm lý học tại TP.HCM. Thông qua việc tiếp cận cấu trúc 3 thành tố Nhận thức – Thái độ – Hành vi trên mẫu khảo sát 250 sinh viên tại 3 trường đại học, công trình đã làm sáng tỏ thực trạng lựa chọn nghề và các nhân tố ảnh hưởng trong giai đoạn chuyển tiếp từ giảng đường sang thị trường lao động. Các giải pháp đề xuất từ cấp độ sinh viên, giảng viên đến nhà trường mang tính đồng bộ, có giá trị ứng dụng thiết thực nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và khả năng thích ứng nghề nghiệp cho cử nhân Tâm lý học.