CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu về định hướng nghề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Tư tưởng định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ đã có từ thời cổ đại dưới dạng rất sơ khai và biểu hiện thông qua việc phân chia lao động theo địa vị và xuất thân của mỗi người trong xã hội. Đến thế kỷ XIX, khi nền sản xuất phát triển cùng với những tư tưởng tích cực về giải phóng con người diễn ra trên khắp thế giới thì khoa học hướng nghiệp mới thực sự trở thành một khoa học độc lập [20].
Hướng nghiệp xuất hiện đầu tiên ở Mỹ, bắt đầu từ năm 1850-1940, gắn liền với những cá nhân như Francis Galton, Wilheim Wundt, James Cattel, Alfred Binet, Frank Parson, Robert Yerkes, E. Cuối những năm 1800, một hệ thống công nghiệp với quy mô lớn ra đời, đã làm thay đổi môi trường mạnh mẽ, môi trường làm việc và điều kiện sống. Để đáp ứng được các yêu cầu của các nhà máy công nghiệp và điều kiện sống khắc nghiệt, chật chội trong những khu nhà ổ chuột một nhu cầu đổi mới đã xuất hiện, một vài nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm đến hành vi con người, những điều kiện khách quan trên để phôi thai và cho ra đời một ngành khoa học Tham vấn nghề. Nước Mỹ có phòng tư vấn nghề đầu tiên trên thế giới do Frank Parsons thành lập vào năm 1908 ở Boston.
Nhiệm vụ của phòng này là tư vấn cho thanh niên có nhu cầu tìm kiếm công ăn việc làm và giúp cho họ chọn được những nghề phù hợp với năng lực, sở trường của mình [11]. Đầu thế kỷ XX, ở Đức, Anh, Pháp, Mỹ đã có phòng tư vấn chĩ dẫn cho thanh niên tìm việc làm, ở đó thanh niên, học sinh được tư vấn về việc lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai của họ [18]. Vào những năm 1940, nhà TLH người Mỹ J. Holland (1919-2008) đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp của con người.
Tác giả đã chỉ ra tương ứng với mỗi kiểu nhân cách là một số những nghề nghiệp tương xứng có thể chọn để đạt được kết quả làm việc và thành công cao nhất. Đến năm 1948, 7 cuốn sách hướng nghiệp “Hướng dẫn chọn nghề” xuất bản ở Pháp được xem là cuốn sách đầu tiên nói về định hướng nghề nghiệp, nội dung cuốn sách đề cập đến sự phát triển của công nghiệp. Tiếp tục phát triển đến năm 1970, năm 1980 ở Mỹ đã kết hợp chặt chẽ việc tư vấn nghề với chương trình công nghệ và dạy nghề. Những nhà nghiên cứu ở đây cũng đã đưa môn “Hướng dẫn chọn nghề-Career guidance” vào giảng dạy ở trường trung học, sau đó là từ bậc trung học đến đại học đều có các cố vấn học tập hay cố vấn tâm lý làm việc.
Năm 1974, cuốn sách nghiên cứu định hướng của nhà TLH người Mỹ, J. Holland lại tiếp tục bàn về định hướng nghề với dụng cụ tư vấn, những đặc điểm môi trường và con người dẫn đến việc chọn nghề, học nghề, gắn bó và thành công với nghề nghiệp của con người được xuất bản mới đều được Holland sửa đổi theo quan niệm mới của ông và theo đề xuất của khách hàng hay của các nhà phê bình. Năm 1995, Meir, Melamed và Dinur nghiên cứu sự phù hợp giữa nghề nghiệp và những kỹ năng có tương quan tích cực dự báo thành công trong công việc và nghề nghiệp [20]. Ngoài những nghiên cứu ở các nước nói trên, các nhà nghiên cứu ở các nước phương Tây khác cũng quan tâm đến thế hệ trẻ, như nghiên cứu của H.
Perho, nhà TLH Phần Lan đã nghiên cứu vấn đề “Định hướng nghề nghiệp và nghệ thuật sư phạm trong đào tạo giáo viên phổ thông” kết quả cho thấy, trong động cơ học tập của sinh viên ngành Sư Phạm ước muốn nhận được điểm tốt mạnh hơn ước muốn trở thành thầy giáo giỏi. Từ đó, ông kêu gọi tổ chức lại hệ thống (quy trình) tuyển sinh ngành Sư Phạm. Volanen một người nghiên cứu Phần Lan khác lại tìm hiểu quá trình thích ứng nghề nghiệp và định hướng việc làm ở thanh niên. Kết quả cho thấy, những đánh giá chủ quan của thời kỳ quá độ ảnh hướng đến định hướng việc làm nhanh hơn nhiều so với bản thân thời kỳ quá độ và ảnh hưởng của những năm tháng làm việc đầu tiên đến định hướng việc làm phụ thuộc và quá trình thích ứng nghề nghiệp.
Ransen Bakh đã nghiên cứu về định hướng giá trị của sinh viên gắn với quá trình định hướng nghề nghiệp và các kế hoạch cuộc sống. Trong nghiên cứu định hướg giá trị của thanh niên, các nhà nghiên cứu chú ý đến định hướng nghề nghiệp của nhóm xã hội này. Như vậy, nhìn chung trọng tâm nghiên cứu của các nước phương Tây chủ yếu sử dụng các phương tiện, thiết bị chuyên môn nhằm tham vấn chuyên sâu với mục đích xác định xu hướng và sự phù hợp nghề của thanh niên. Viện nghiên cứu thanh niên ở Đức, trong công trình “Nghiên cứu 8 những vấn đề thanh niên ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức” (1976), đã nghiên cứu về định hướng giá trị nghề nghiệp của thanh niên công nhân Đức.
Các tiêu chí có ý nghĩa quan trọng nhất trong công việc và động cơ làm việc được xem là những chỉ báo về định hướng giá trị của họ [5]. Lĩnh vực này cũng thu hút sự quan tâm của các nhà TLH Nga. Xung quanh vấn đề lựa chọn nghề nghiệp, A. Klimov, chỉ ra 10 nguyên nhân dẫn đến sai lầm khi chọn nghề.
Về nhận thức nghề nghiệp, nhà nghiên cứu N. Petroxki đã đề cập đến ý nghĩa của sự hiểu biết nghề định chọn đối với học sinh. Vì học sinh chưa có quan niệm rõ ràng về đa số các nghề nên không thể định hướng đúng đắn trong các nghề đó. Dự định chọn nghề của học sinh được các nhà nghiên cứu quan tâm: V.
Ở Liên Xô cũ, vào những năm 29,30 của thế kỷ XX, vấn đề hướng nghiệp cho học sinh cũng được các nhà khoa học và lãnh đạo chính quyền Xô Viết đặc biệt quan tâm. Nhà giáo dục học lỗi lạc N. Crupxkaia đã từng nêu lên luận điểm “Tự do chọn nghề” cho mỗi thanh thiếu niên. Theo bà, công tác hướng nghiệp giúp cho trẻ phát triển được hứng thú và năng lực nghề nghiệp, giáo dục cho các em thái độ lao động đúng đắn, động cơ chọn nghề trong sáng.
Dựa trên các luận điểm chọn nghề của C.Mác và Lê Nin các nhà giáo dục Liên Xô trong các tác phẩm và công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra tầm quan trọng của giáo dục hướng nghiệp và định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ sẽ là cơ sở cho họ chọn nghề đúng đắn, phù hợp giữa năng lực cá nhân, sở thích và nhu cầu xã hội. Trong những năm 1970, nhà TLH Lao Động Liên Xô E. Kalimop đã đưa ra trắc nghiệm “Xác định kiểu nghề cần chọn trên cơ sở tự đánh giá” với 30 câu hỏi. Cùng thời gian đó A.
Colomtoc cũng đưa ra trắc nghiệm đo hứng thú nghề nghiệp với 78 câu hỏi, cùng thời điểm đó nhiều nhà khoa học ở Liên Xô cũ xem “Tam giác hướng nghiệp” của K. Platonov là yêu cầu chuẩn xác cho việc chọn ngành nghề. Tác giả của tam giác hướng nghiệp vạch ra 3 yếu tố cơ bản: Đặc điểm cá nhân, tính chất nghề nghiệp và nhu cầu xã hội [20]. 9 Một số nhà Tâm lý học Xô Viết khác như Ph.
Xmirnop nghiên cứu khía cạnh sinh học, xã hội của quá trình thích ứng; Ph. Anderiep nghiên cứu sự thích ứng xã hội của thanh niên với nghề nghiệp [5]. Như vậy, điểm qua tình hình của một số nước trên thế giới, cho ta thấy hướng nghiệp đòi hỏi sự đánh giá dựa trên sự kết hợp những tiêu chí về giáo dục và dự báo về nhân cách tương lai. ĐHN cho học sinh, sinh viên là một xu thế tất yếu của mỗi thời đại.
Đồng thời, từ những lý luận trên ta có thể thấy được đa số các nước trên thế giới có sự quan tâm, chú trọng và đầu tư rất khoa học và nghiêm túc trong việc ĐHN cho mỗi cá nhân. Những nghiên cứu ở Việt Nam Nghiên cứu ĐHN ở Việt Nam theo các chuyên gia đã có những bước phát triển mạnh mẽ vào những năm 1970, 1980, tiếp thu những thành tựu của thế giới và thực tiễn nghiên cứu trong nước. Từ những năm 1994-1995, Trần Thị Minh Đức với đề tài cấp bộ về “Định hướng nghề nghiệp của SV và HS ở một số trường THPT và ĐH ở Hà Nội”, mã số B94; 0507 đã mở ra một xu hướng nghiên cứu ĐHN cụ thể, thực tế và bám sát những đối tượng mà xã hội lúc bấy giờ đặc biệt quan tâm. Cũng trong năm 1994, Viện nghiên cứu Phát triển Giáo dục đã tiến hành nghiên cứu “Một số đặc điểm xu hướng nghề nghiệp của SV trong sự chuyển đổi kinh tế-xã hội mới” do Trần Ninh Giang làm chủ nhiệm.
Kết quả phản ánh tình hình KT-XH chi phối mạnh mẽ đến việc chọn nghề của SV, từ đó phát triển xu hướng lựa chọn nghề nghiệp thiên về kinh tế và công nghiệp ở SV [20]. Từ năm 1991-1995, nhiều đề tài KX thuộc chương trình KHCN cấp nhà nước đã tiếp cận: “Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam” mã số KX-07-10 do Thái Duy Duyên làm chủ nhiệm, đã khảo sát trên các đối tượng thanh niên, công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên, trí thức và chủ doanh nghiệp trẻ tại Hà Nội, Hải Phòng, Hà Nam, Nghệ An, Hồ Chí Minh về “Nhu cầu, nguyện vọng của thanh niên và định hướng giá trị của thanh niên” nội dung nghiên cứu tập trung vào xem xét các vấn đề lý tưởng, niềm tin của thanh niên, việc làm, nghề nghiệp, rèn luyện, bồi dưỡng tài năng, tình yêu hôn nhân và gia đình. Năm 1989, Lê Quang Sơn trong luận án tiến sĩ Tâm lý học “Những đặc trưng tâm lý của định hướng giá trị của 10 thanh niên Việt Nam hiện đại” đã xem định hướng giá trị như là những thái độ của nhân cách đối với bản thân và thế giới trong quá khứ, hiện tại và tương lai được cấu trúc lại trong các thể nghiệm và biểu tượng của nhân cách [5]. Hướng nghiệp ở Việt Nam đã có những phát triển mãnh mẽ vào thập niên 70 của thế kỷ XX, đặc biệt là vào năm 1977 với các nghiên cứu đầu tiên về HN do các chuyên gia tâm lý như Đặng Danh Ánh, Phạm Tất Dong…tiến hành.