CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP.1 Khái niệm: Định giá doanh nghiệp là xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp. Giá trị thực tế của doanh nghiệp là giá trị toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp mà có tính đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai. Hiện nay, khi thị trường chứng khoán đã phát triển, giá trị doanh nghiệp được hiểu rõ và coi trọng hơn. Giá trị các doanh nghiệp đã niêm yết trên thị trường là nguồn thông tin quan trọng để các nhà đầu tư, nhà cung cấp quan tâm, cho họ một sự đánh giá tổng quát về hiệu quả kinh doanh, khả năng sinh lời, uy tín, khả năng tài chính và vị thế tín dụng để từ đó có cơ sở đưa ra quyết định về đầu tư, tài trợ, cấp tín dụng cho doanh nghiệp đó.
Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp, giá trị doanh nghiệp là loại thông tin quan trọng để các nhà quản trị phân tích, đánh giá trước khi ra các quyết định kinh doanh và tài chính có liên quan đến doanh nghiệp được định giá. Nội dung cũng như mục tiêu cơ bản của công tác quản trị doanh nghiệp là phải làm tăng giá trị doanh nghiệp. Giá trị doanh nghiệp là sự phản ánh năng lực tổng hợp, phản ánh khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, căn cứ vào kết quả định giá, nhà quản trị có thể thấy được khả năng cạnh tranh, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mình trên cơ cở so sánh với các doanh nghiệp khác và so sánh với giá trị trong quá khứ.
Giá trị doanh nghiệp trở thành căn cứ, cơ sở và nền tảng hợp lý cho việc đưa ra quyết định về kinh doanh, về tài chính, đầu tư… một cách đúng đắn.2 Nhu cầu định giá doanh nghiệp: Giá trị doanh nghiệp còn là thông tin quan trọng trong quản lý Kinh tế vĩ mô. Giá cả chứng khoán phản ánh giá trị thực tế của doanh nghiệp. Do đó, giá trị doanh nghiệp là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức, hiệp hội kinh doanh chứng -2- khoán đánh giá tính ổn định và hiệu quả của thị trường, từ đó có những điều chỉnh thích hợp. Giá cả chứng khoán không phản ánh giá trị của doanh nghiệp, bị đánh giá quá cao hay quá thấp do bất kỳ nguyên nhân nào (đầu cơ, thao túng, làm giá,…) đều là mầm mống nguy hiểm cho các biến cố kinh tế.
Đặc biệt, định giá doanh nghiệp còn là nhu cầu tất yếu của nền kinh tế thị trường khi mà hoạt động mua bán, sát nhập, hợp nhất và chia nhỏ doanh nghiệp diễn ra ngày càng thường xuyên và phổ biến. Để thực hiện các giao dịch đó, đòi hỏi phải có sự đánh giá trên một phạm vi rộng lớn các yếu tố tác động tới doanh nghiệp, trong đó, giá trị doanh nghiệp là một yếu tố có tính chất quyết định, là căn cứ trực tiếp để thực hiện thương thuyết. Vì vậy, nhu cầu xác định giá trị doanh nghiệp luôn là mối quan tâm của rất nhiều người của các pháp nhân và thể nhân có lợi ích liên quan, gắn bó trực tiếp tới các doanh nghiệp được định giá.3 Mục tiêu định giá doanh nghiệp Kết quả định giá doanh nghiệp là cơ sở cho các hoạt động sáp nhập, mua lại, hợp nhất, giải thể, thanh lý tài sản hay thành lập các liên doanh, cổ phần hóa… Kết quả thẩm định giá trị doanh nghiệp còn giúp cho doanh nghiệp có những giải pháp cải tiến quản lý cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. Đó cũng là cơ sở cho các tổ chức, cá nhân và công chúng đầu tư ra quyết định đầu tư vào các loại chứng khoán do doanh nghiệp phát hành trên thị trường tài chính.4 Những yếu tố cần thiết trong công tác định giá doanh nghiệp 1.1 Đảm bảo nguồn thông tin chính xác và đáng tin cậy Để có được việc xác định giá trị một doanh nghiệp chính xác để có thể đưa ra những quyết định hợp lý nhằm giúp cho mọi người nhìn đúng bản chất của nó thì nguồn thông tin làm cơ cở cho việc định giá phải đủ độ chính xác và tin cậy.
Do đó, đây là yêu cầu cơ bản và hàng đầu hay là yêu cầu quan trọng nhất trong công tác định giá doanh nghiệp. Thực hiện được yêu cầu này ta cần phải đảm bảo nhiều yếu tố liên -3- quan khác trong quá trình thực hiện đánh giá: năng lực định giá, phương pháp định giá, tính khách quan và trung thực,… 1.2 Đảm bảo tính nhanh chóng và đúng thời điểm Thông tin định giá phải đảm bảo kịp thời, phù hợp với tiến độ của kế hoạch đã đặt ra từ trước. Tính nhanh chóng ở đây là để đảm bảo kế hoạch được tiến hành đúng như dự kiến. Kết quả định giá được sử dụng đúng thời điểm vì mọi quyết định đòi hỏi đưa ra trong một khoảng thời gian nhất định và cũng chỉ có giá trị trong một khoảng thời gian xác định.
Thực hiện nhanh chóng và đúng thời điểm bao hàm trong đó cả đòi hỏi về tính chính xác và tin cậy của thông tin.3 Đảm bảo mục tiêu về chi phí Chi phí của việc định giá là một vấn đề đáng quan tâm và cần hoạch định trước. Trên thực tế, khi lựa chọn phương pháp đinh giá nào (định giá tài sản thuần, dòng tiền chiết khấu,…) thì cũng có những chi phí tương ứng trong quá trình định giá. Khi định giá cần lựa chọn phương pháp phù hợp cho từng doanh nghiệp cụ thể bởi vì mỗi doanh nghiệp có những đặc trưng riêng khi xét đến khía cạnh giá trị. Có doanh nghiệp có thể chỉ có tài sản hữu hình, có doanh nghiệp có thể tài sản vô hình lớn trong khi đó tài sản hữu hình lại không đáng kể.
Có doanh nghiệp đã giao dịch trên thị trường chứng khoán, có doanh nghiệp mới thành lập… Việc lựa chọn phương pháp phù hợp sẽ cho phép giá trị cấu thành doanh nghiệp được phản ánh chính xác nhất trong phạm vi có thể. Một tập hợp các phương pháp cũng có thể được sử dụng với mục đích tham khảo, so sánh và nâng cao tính chính xác cho công việc định giá.5 Các phương pháp định giá: Tùy theo nhu cầu định giá của từng doanh nghiệp cụ thể có thể lựa chọn các phương pháp định giá khác nhau hoặc phối hợp tác phương pháp nhằm tính toán được một giá trị đáng tin cậy. Các phương pháp định giá chủ yếu có thể áp dụng: -4- 1.1 Phương pháp giá trị tài sản ròng Trong các phương pháp định giá doanh nghiệp theo giá trị tài sản thì phương pháp giá trị tài sản ròng (NAV) được sử dụng phổ biến nhất và dựa trên cơ sở sau: Sự hoạt động của doanh nghiệp bao giờ cũng được tiến hành dựa trên cơ sở một lượng tài sản có thực. Những tài sản đó là sự hiện diện rõ ràng và cụ thể cho sự tồn tại của doanh nghiệp, cấu thành nên thực thể của doanh nghiệp.
Tài sản của doanh nghiệp được hình thành bởi sự tài trợ vốn của các nhà đầu tư khi thành lập và tiếp tục được bổ sung trong quá trình hoạt động. Cơ cấu nguồn tài trợ để hình thành tài sản là sự khẳng định và thừa nhận về mặt pháp lý các quyền sở hữu và lợi ích của các nhà đầu tư đối với tài sản đó. Phương pháp định giá: b. Phương pháp 1 Giá trị doanh nghiệp = Giá trị tài sản ròng * Giá trị tài sản ròng (NAV) có thể được tính theo hai cách: Cách 1: Căn cứ vào giá trị sổ sách Giá trị tài sản ròng = Tổng giá trị tài sản có – Các khoản nợ có khả năng thu hồi Các khoản nợ của doanh nghiệp bao gồm: Nợ vay ngắn hạn, nợ vay dài hạn, các khoản phải trả cho khách hàng, phải trả công nhân viên, thuế và các khoản phải nộp cho Ngân sách, chi phí phải trả, phải trả nội bộ, các khoản nợ khác,…Các khoản nợ này được phản ánh ở phần nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.
Cách 2: Xác định giá trị tài sản thuần theo giá thị trường Để xác định giá trị tài sản ròng theo giá thị trường, nhà định giá sẽ loại khỏi danh mục định giá những tài sản không cần thiết và không có khả năng đáp ứng yêu cầu của sản xuất kinh doanh. Sau đó, công việc định giá sẽ được tiến hành: + Đối với TSCĐ và TSLĐ là hiện vật thì đánh giá theo giá thị trường nếu trên thị trường hiện có bán những tài sản như vậy hoặc dựa theo công dụng hay khả năng phục vụ sản xuất của tài sản để áp dụng một tỷ lệ khấu trừ dựa trên giá trị của TSCĐ mới. Đối với những TSCĐ không còn tồn tại trên thị trường thì nhà định -5- giá sẽ áp dụng một hệ số quy đổi so với những TSCĐ khác loại nhưng có tính năng tương đương. + Các tài sản bằng tiền được xác định bằng cách kiểm quỹ, đối chiếu số dư trên tài khoản.
Nếu là ngoại tệ sẽ được quy đổi về đồng nội tệ theo tỷ giá thị trường tại thời điểm định giá. Các loại tài sản: vàng, kim loại quý, đá quý,… cũng được tính toán tương tự. + Các khoản phải thu: loại bỏ những khoản nợ không có khả năng thu hồi hay khả năng thu hồi là quá mong manh bằng việc: đối chiếu công nợ, xác minh tính pháp lý, đánh giá độ tin cậy của từng khoản phải thu. + Đối với các khoản đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp: Nếu khoản đầu tư không quá lớn, có thể dựa trên giá trị chứng khoán, hoặc dựa theo số liệu của bên đối tác liên doanh.
Nếu khoản đầu tư khá lớn, cần thực hiện đánh giá một cách toàn diện về giá trị của khoản đầu tư đó trong việc tạo nên giá trị doanh nghiệp. + Đối với tài sản cho thuê và quyền thuê bất động sản: Tính theo phương pháp chiết khấu dòng thu nhập trong tương lai. Phương pháp 2 Giá trị tài sản ròng + Giá trị khả năng sinh lời Giá trị Doanh nghiệp = P2 = 2 Lợi nhuận ròng hàng năm dự tính thu được của C.ty Giá trị khả năng sinh lời = Hệ số sinh lời n ∑ LNi i =1 Lợi nhuận ròng bình quân hàng năm dự tính thu được = n LNi : Lợi nhuận ròng dự tính thu được năm i n : Số năm dự tính + Hệ số sinh lời là tỷ lệ quy đổi giá trị các khoản lợi nhuận trong tương lai về hiện tại hay chính là lãi suất chiết khấu. -6- Phương pháp này là phương pháp kết hợp giữa hai phương pháp định giá dựa trên giá trị tài sản ròng và dựa trên thu nhập.