Nghiên cứu điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm bằng xạ trị lập thể

Chuyên khảo điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm bằng xạ trị lập t phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sang 108

Chuyên ngành

Nội Hô Hấp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2022

157
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Khái quát chung về ung thư phổi

1.2. Dịch tễ học của ung thư phổi

1.3. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư phổi giai đoạn sớm

1.4. Chẩn đoán ung thư phổi không tế bào nhỏ

1.5. Điều trị UTPKTBN giai đoạn sớm

1.6. Điều trị UTPKTBN giai đoạn sớm bằng xạ trị lập thể định vị thân

1.7. Giới thiệu về xạ trị lập thể định vị thân

1.8. Liều hiệu quả sinh học trong xạ trị lập thể định vị thân cho UTPKTBN giai đoạn sớm

1.9. Chỉ định và chống chỉ định xạ trị lập thể định vị thân UTPKTBN

1.10. Liều và phân liều xạ trị lập thể định vị thân ở BN UTPKTBN

1.11. Các nghiên cứu về xạ trị lập thể định vị thân ở bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn sớm

2. CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Thiết kế nghiên cứu

2.4. Phương pháp lấy mẫu

2.5. Nội dung nghiên cứu

2.6. Các bước tiến hành

2.7. Các phương tiện và quy trình điều trị

2.8. Phương pháp đánh giá

2.9. Theo dõi BN sau điều trị

2.10. Đạo đức nghiên cứu

2.11. Xử lý số liệu

3. CHƯƠNG III: ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH PET/CT CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN I (T1-2aN0M0) TRƯỚC KHI XẠ TRỊ LẬP THỂ ĐỊNH VỊ THÂN

3.1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

3.2. Đặc điểm hình ảnh PET/CT

3.3. Kết quả xạ trị lập thể định vị thân ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm

3.4. Lập kế hoạch điều trị

3.5. Đánh giá đáp ứng điều trị

3.6. Đánh giá thời gian sống thêm

3.7. Tác dụng không mong muốn

4. CHƯƠNG IV: ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH PET/CT CỦA BN UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN I (T1-2aN0M0) TRƯỚC KHI XẠ TRỊ LẬP THỂ ĐỊNH VỊ THÂN

4.1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

4.2. Đặc điểm hình ảnh PET/CT

4.3. Kết quả xạ trị lập thể định vị thân ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm

4.4. Lập kế hoạch điều trị

4.5. Đánh giá đáp ứng điều trị

4.6. Đánh giá thời gian sống thêm

4.7. Tác dụng không mong muốn

4.8. Hạn chế của đề tài

4.9. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh PET/CT của bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I (T1-2aN0M0) không phẫu thuật được, trước khi xạ trị lập thể định vị thân

4.10. Kết quả xạ trị lập thể định vị thân ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm

Tóm tắt

I. Khái quát chung về ung thư phổi

Ung thư phổi (UTP) là loại ung thư phổ biến nhất và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư trên toàn cầu. Theo thống kê của GLOBOCAN năm 2020, tại Việt Nam có 26.262 ca mới được chẩn đoán UTP, chiếm 14,4% tổng số ca ung thư. Khoảng 80% bệnh nhân được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn muộn. UTP được chia thành hai loại chính: UTP tế bào nhỏ và UTP không tế bào nhỏ (UTPKTBN), trong đó UTPKTBN chiếm khoảng 85% tổng số ca. Mặc dù có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị, tỷ lệ sống thêm sau 5 năm chỉ đạt khoảng 19%. Phẫu thuật là phương pháp điều trị chính cho UTPKTBN giai đoạn sớm, nhưng nhiều bệnh nhân không thể phẫu thuật do các lý do khác nhau. Do đó, cần có các phương pháp điều trị thay thế hiệu quả.

1.1. Dịch tễ học của ung thư phổi

Trên toàn cầu, UTP là bệnh ung thư phổ biến thứ hai với khoảng 2,2 triệu ca mới mắc và 1,8 triệu ca tử vong vào năm 2020. Tỷ lệ mắc và tử vong do UTP cao hơn ở các nước phát triển so với các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, UTP đứng thứ hai về tỷ lệ mắc và tử vong, chỉ sau ung thư gan. Tình trạng hút thuốc lá là yếu tố chính dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ mắc UTP, đặc biệt ở nam giới. Việc sàng lọc sớm bằng chụp cắt lớp vi tính có thể giúp phát hiện bệnh sớm và cải thiện tỷ lệ sống sót.

II. Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm

Điều trị UTPKTBN giai đoạn sớm thường bao gồm phẫu thuật, xạ trị, hóa trị và các phương pháp điều trị khác. Phẫu thuật là lựa chọn hàng đầu, nhưng không phải tất cả bệnh nhân đều có thể thực hiện. Xạ trị lập thể định vị thân (SBRT) đã trở thành một lựa chọn điều trị quan trọng cho những bệnh nhân không thể phẫu thuật. SBRT cho phép nâng liều điều trị tại khối u và giảm liều cho các mô lành xung quanh, từ đó cải thiện khả năng kiểm soát khối u và giảm tác dụng phụ. Nghiên cứu cho thấy SBRT có tỷ lệ kiểm soát tại chỗ cao và thời gian sống thêm tương đương với phẫu thuật.

2.1. Phương pháp điều trị ung thư phổi

Các phương pháp điều trị UTPKTBN bao gồm phẫu thuật, xạ trị, hóa trị và điều trị đích. Phẫu thuật là phương pháp chính cho giai đoạn sớm, nhưng nhiều bệnh nhân không thể thực hiện do các lý do sức khỏe. Xạ trị lập thể định vị thân (SBRT) là một lựa chọn điều trị hiệu quả cho những bệnh nhân không phẫu thuật được. SBRT cho phép điều trị với liều cao hơn tại khối u và giảm thiểu tác động đến các mô lành xung quanh, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ.

III. Xạ trị lập thể định vị thân trong điều trị ung thư phổi

Xạ trị lập thể định vị thân (SBRT) là một kỹ thuật xạ trị tiên tiến, cho phép điều trị các khối u với liều cao trong một khoảng thời gian ngắn. Kỹ thuật này đã được chứng minh là hiệu quả trong việc điều trị UTPKTBN giai đoạn sớm, đặc biệt cho những bệnh nhân không thể phẫu thuật. SBRT giúp nâng cao tỷ lệ kiểm soát khối u và thời gian sống thêm, với tỷ lệ kiểm soát tại chỗ lên đến 92% trong một số nghiên cứu. Việc sử dụng SBRT cũng giúp giảm thiểu tác dụng phụ so với xạ trị thông thường.

3.1. Liều hiệu quả sinh học trong SBRT

Liều hiệu quả sinh học (BED) trong SBRT là một yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả điều trị. Nghiên cứu cho thấy rằng việc tối ưu hóa liều và phân liều có thể cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn sớm. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng SBRT có thể đạt được liều cao hơn mà không làm tăng nguy cơ tác dụng phụ cho các mô lành xung quanh. Điều này cho phép các bác sĩ điều trị đạt được hiệu quả tối ưu trong việc kiểm soát khối u.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I TỔNG QUAN 1. Khái quát chung về ung thư phổi 1. Dịch tễ học của ung thư phổi: Trên Thế giới, với ước tính khoảng 2,2 triệu ca ung thư mới mắc và 1,8 triệu ca tử vong, UTP là bệnh ung thư được chẩn đoán phổ biến thứ hai và là nguyên nhân gây tử vong do ung thư hàng đầu vào năm 2020, chiếm khoảng 1/10 (11,4%) bệnh ung thư được chẩn đoán và 1/5 (18,0%) tử vong. Ung thư phổi là nguyên nhân hàng đầu gây ra tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư ở nam giới, trong khi ở phụ nữ, nó đứng thứ ba về tỷ lệ mắc, sau ung thư vú và ung thư đại trực tràng, đứng thứ hai về tỷ lệ tử vong, sau ung thư vú.

Tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong ở nam cao hơn gần 2 lần so với nữ, mặc dù tỷ lệ nam/nữ rất khác nhau giữa các vùng, dao động từ 1,2 ở Bắc Mỹ đến 5,6 ở Bắc Phi. Tỷ lệ mắc UTP và tỷ lệ tử vong do UTP cao gấp 3 đến 4 lần ở các nước phát triển so với các nước đang phát triển, mô hình này có thể sẽ thay đổi khi tình trạng thuốc lá tăng lên, do 80% người hút thuốc từ 15 tuổi trở lên sống ở các nước có thu nhập thấp và trung bình vào năm 2016 [1]. Ở nam giới, UTP là loại ung thư được chẩn đoán phổ biến nhất ở 36 quốc gia, trong khi nó là loại ung thư hàng đầu trong số nguyên nhân gây tử vong do ung thư ở 93 quốc gia. Ở phụ nữ, UTP là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư ở 25 quốc gia ở Bắc Mỹ, Châu Đại Dương và một phần của Châu Âu.

Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là ở Bắc Mỹ, miền Bắc và miền Tây Châu Âu, Micronesia / Polynesia và Úc / New Zealand, trong đó Hungary có tỷ lệ cụ thể theo quốc gia cao nhất. Xu hướng này phản ánh tình trạng hút thuốc lá, với tỷ lệ tử vong song song với tỷ lệ mắc bệnh. Ở phụ nữ, tình trạng hút thuốc lá đang có xu hướng tăng lên. Tỷ lệ mắc cũng cao ở Đông Á, phần lớn phản ánh gánh nặng của phụ nữ Trung Quốc, được cho là để phản ánh mức độ ô nhiễm và phơi 4 nhiễm không khí ngoài trời cao đối với các tác nhân có thể hít phải khác, chẳng hạn như trong quá trình sưởi ấm và nấu ăn tạo ra lượng khói tầm thấp chiếm tỷ lệ phổ biến.

Tỷ lệ tử vong do UTP trên toàn cầu do ô nhiễm môi trường không khí ngoài trời với hạt PM2,5 (gọi là hạt mịn) là 14% vào năm 2017, dao động từ 4,7% ở Hoa Kỳ đến 20,5% ở Trung Quốc [1]. Khả năng sống sót của BN UTP sau 5 năm chẩn đoán chỉ là 10% đến 20% ở hầu hết các quốc gia trong số những người được chẩn đoán từ năm 2010 đến năm 2014, mặc dù tỷ lệ cao hơn ở Nhật Bản (33%), Israel (27%) và Hàn Quốc (25%). Tầm soát bằng chụp cắt lớp vi tính liều thấp cho những người có nguy cơ cao (hiện tại và trước đây nghiện thuốc lá nặng) có thể giúp chẩn đoán sớm ung thư, và có nhiều khả năng điều trị thành công hơn. Hiệu quả của sàng lọc bằng cắt lớp vi tính liều thấp hàng năm trong việc giảm tỷ lệ tử vong do UTP đã được xác nhận trong một số nghiên cứu lâm sàng độc lập, quốc tế, ngẫu nhiên có đối chứng.

Tuy nhiên, việc phổ cập lợi ích này đến toàn dân số nói chung là một thách thức, có khả năng cản trở một phần việc thực hiện chiến lược toàn cầu nhằm giảm gánh nặng bệnh tật, ít nhất là trong tương lai gần [1]. Tại Việt Nam, theo thống kê của Globocan 2020, có 26.262 ca mới được chẩn đoán UTP ở cả 2 giới, chiếm 14,4% các loại ung thư và 23.797 ca tử vong do UTP chiếm 19,4% số ca tử vong do ung thư ở cả 2 giới. Ở nam giới, UTP đứng hàng thứ 2 về tỉ lệ mắc và tỉ lệ tử vong sau ung thư gan, xu hướng này cũng thấy ở nữ giới, UTP đứng sau ung thư vú về tỉ lệ mắc và tỉ lệ tử vong [1]. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư phổi giai đoạn sớm 1.

Đặc điểm lâm sàng: Triệu chứng lâm sàng của UTP đa dạng nhưng không đặc hiệu và không có khác nhau giữa các týp mô bệnh học khác nhau, dễ nhầm với các bệnh hô hấp mạn tính khác như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hay bệnh tim mạch như suy tim, cơn đau thắt ngực.do đó đa số BN UTP thường được chẩn đoán ở giai đoạn muộn, chỉ 1/4 số BN (BN) được chẩn đoán ở giai đoạn sớm. Triệu chứng lâm sàng của BN UTP giai đoạn sớm thường nghèo nàn, nhiều BN hoàn toàn 5 không có triệu chứng (khoảng 5 – 15%), họ phát hiện ra bệnh một cách tình cờ sau khi đi khám sức khỏe định kỳ. Ở giai đoạn muộn, các triệu chứng thường phong phú hơn, các triệu chứng lâm sàng có thể gặp ở BN UTP bao gồm các triệu chứng ở cơ quan hô hấp do khối u gây ra hoặc triệu chứng do ung thư xâm lấn, di căn gây ra. Đôi khi, đó chỉ là các triệu chứng toàn thân, nếu không kịp thời phát hiện và định hướng chẩn đoán có thể dẫn đến làm chậm quá trình chẩn đoán và điều trị [5], [6], [19], [20].

Các triệu chứng lâm sàng có thể gặp ở BN UTP giai đoạn sớm bao gồm các triệu chứng tại chỗ của cơ quan hô hấp hoặc triệu chứng của các hội chứng cận u và toàn thân như sau: - Triệu chứng của cơ quan hô hấp: Ho là triệu chứng hay gặp nhất ở BN UTP. Ho biểu hiện lúc chẩn đoán ở khoảng 60 - 70% trường hợp UTP, ở hầu hết BN không được điều trị khỏi bằng điều trị thông thường [20]. Tuy nhiên, ở BN UTP giai đoạn I, chỉ có khoảng 19 – 31% BN có triệu chứng ho [21]. Ho ra máu chiếm khoảng 17 – 25% các trường hợp UTP giai đoạn I [21].

Ho ra máu trong UTP có nhiều mức độ khác nhau nhưng thường bao gồm đờm có vệt máu. Mô tả thông thường nhất của BN là ho ra đờm lẫn ít máu trong vài ngày liên tiếp. Mức độ nghi ngờ tăng lên khi thấy các triệu chứng dai dẳng hoặc tái diễn, đặc biệt ở các BN có tiền sử hút thuốc. Chảy máu số lượng lớn trong UTP có thể gây tử vong ở một số trường hợp [19].

Đau ngực là triệu chứng thường gặp ở BN UTP, triệu chứng này có thể xảy ra kể cả ở UTP giai đoạn rất sớm mà không có xâm lấn màng phổi, thành ngực hoặc trung thất, tuy nhiên, tỉ lệ này chỉ khoảng 6 – 16% [21]. Khó thở ở BN UTP giai đoạn sớm thường do bệnh lý kết hợp như COPD hay bệnh tim mạch chứ không phải do khối u gây nên, tỉ lệ này gặp ở khoảng 3 – 18% các trường hợp [21]. Nghiên cứu ở các BN có nốt ở phổi, Figueroa C. và cộng sự đã so sánh các triệu chứng của nốt ở phổi do lao và ung thư phổi, kết quả cho thấy có tới 52,2% các BN UTP là không có triệu chứng, trong số BN có triệu chứng, ho chiếm tỉ lệ cao nhất với 51,8%, tiếp theo là khó thở 35,3%, 6 ho ra máu chiếm 9,4%, đặc biệt các tác giả không gặp trường hợp nào có triệu chứng đau ngực trong nhóm UTP [22].

- Các hội chứng cận u: Các triệu chứng của hội chứng cận u không phải là hiếm gặp trong UTP và các bệnh ung thư khác, và đôi khi có thể là biểu hiện lâm sàng đầu tiên của bệnh. Hội chứng cận u bao gồm nhiều loại rối loạn nội tiết, thần kinh, da liễu và các rối loạn chức năng cơ thể khác là kết quả gián tiếp của ung thư chứ không phải do sự hiện diện trực tiếp của tế bào ung thư như xâm lấn hay di căn. Hội chứng cận u không đặc hiệu đối với UTP, mặc dù tần suất liên quan là khác nhau giữa các loại khối u. Ví dụ, bệnh xương khớp phì đại và to đầu chi xảy ra với UTP và lồng ngực nhiều hơn so với các bệnh ung thư nguyên phát khác.

Ngoài ra, một số týp UTP nhất định có thể liên quan nhiều đến hội chứng cận u hơn những loại khác, đặc biệt là UTP tế bào nhỏ, khối u carcinoid và ung thư thần kinh nội tiết khác. Tần suất mắc hội chứng này khoảng 0% - 20% ở bệnh lý ác tính [19], [20], [23]. Các hội chứng cận u gồm: + Các hội chứng nội tiết: có thể gặp Hội chứng tăng tiết ADH không phù hợp tổ chức gây đái tháo nhạt, tăng canxi huyết không do di căn, hội chứng Cushing, dấu hiệu vú to ở nam giới hoặc hạ đường huyết. + Các hội chứng thần kinh: có thể gặp Bệnh lý thần kinh cảm giác bán cấp, Hội chứng nhược cơ Lambert-Enton, giả tắc ruột non, viêm não tủy hoặc Bệnh võng mạc do ung thư.

+ Bệnh lý xương: có thể biểu hiện bằng bệnh xương khớp phì đại hoặc to đầu chi (ngón dùi trống). + Các hội chứng bệnh lý thận: hay gặp biểu hiện viêm cầu thận hoặc hội chứng thận hư. + Huyết học: biểu hiện bằng thiếu máu hoặc tăng bạch cầu ái toan, cũng có thể gặp huyết khối không do di căn hoặc ban xuất huyết giảm tiểu cầu. + Các hội chứng mạch collagen: có thể biểu hiện bằng viêm da cơ, viêm đa cơ, viêm mạch hoặc Lupus ban đỏ hệ thống.

7 + Các hội chứng về da: biểu hiện bằng chứng rậm lông mắc phải, ban đỏ đa hình thái, chứng sừng hóa, đỏ da hay viêm da bong vảy. + Rối loạn đông máu biểu hiện bằng huyết khối tĩnh mạch hoặc đông máu rải rác lòng mạch. - Các triệu chứng khác: Các triệu chứng toàn thân có thể gặp ở BN UTP giai đoạn sớm bao gồm: Sốt gặp ở 7 – 25% BN, chán ăn ở 6 – 15% và gầy sút cân xảy ra ở 13 – 36% các trường hợp UTP [21]. Trong khi đó, các triệu chứng của bệnh tiến triển tại chỗ hoặc bệnh tiến triển ngoài lồng ngực không gặp ở BN UTP giai đoạn sớm, vì các triệu chứng này xuất hiện khi khối u đã xâm lấn, chèn ép hoặc di căn các cơ quan khác, khi đó đã chuyển giai đoạn T,N,M [19], [20].

Cũng trong nghiên cứu của Figueroa C. và cộng sự cho thấy, ở nhóm UTP 7,9% BN có sút cân, 1,4% BN có sốt [22].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm bằng xạ trị lập thể" cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp xạ trị lập thể, một lựa chọn điều trị hiệu quả cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ ở giai đoạn sớm. Bài viết nhấn mạnh những lợi ích của phương pháp này, bao gồm khả năng giảm thiểu tác dụng phụ so với các phương pháp điều trị truyền thống, đồng thời nâng cao tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức hoạt động của xạ trị lập thể, cũng như những nghiên cứu mới nhất liên quan đến phương pháp này.

Để mở rộng thêm kiến thức về điều trị ung thư phổi, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả điều trị gefitinib trong ung thư phổi không tế bào nhỏ tái phát di căn", nơi cung cấp thông tin về một loại thuốc điều trị khác cho ung thư phổi. Ngoài ra, bài viết "Luận án sự phân bố kiểu gen cyp1a1 cyp2d6 ở bệnh nhân ung thư phổi" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về yếu tố di truyền ảnh hưởng đến bệnh. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận án đánh giá hiệu quả thuốc erlotinib trong điều trị ung thư phổi biểu mô tuyến giai đoạn muộn", một nghiên cứu quan trọng về thuốc điều trị cho giai đoạn muộn của bệnh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp điều trị ung thư phổi hiện nay.