Luận án tiến sĩ về điều trị và yếu tố tiên lượng ung thư biểu mô nội mạc tử cung giai đoạn I II

Luận án tiến sĩ phân tích kết quả điều trị và yếu tố tiên lượng ung thư biểu mô nội mạc tử cung giai đoạn I, II, cung cấp thông tin giá trị cho nghiên cứu.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Ung thư

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

154
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sinh bệnh học và di căn hạch trong ung thư nội mạc tử cung

1.2. Sinh bệnh học ung thư nội mạc tử cung

1.3. Các đường lan tràn ung thư trong UTNMTC

1.4. Bạch huyết và di căn hạch của ung thư nội mạc tử cung

1.5. Chẩn đoán và phân chia giai đoạn ung thư nội mạc tử cung

1.6. Đặc điểm lâm sàng của ung thư nội mạc tử cung

1.7. Đặc điểm cận lâm sàng của ung thư nội mạc tử cung

1.8. Phân chia giai đoạn ung thư nội mạc tử cung

1.9. Điều trị UTNMTC và một số nghiên cứu về điều trị UTNMTC trên thế giới

1.10. Điều trị phẫu thuật ung thư nội mạc tử cung

1.11. Điều trị tia xạ trong ung thư nội mạc tử cung

1.12. Điều trị hóa chất ung thư nội mạc tử cung

1.13. Điều trị hóc môn và điều trị đích

1.14. Một số nghiên cứu về điều trị ung thư nội mạc tử cung

1.15. Một số yếu tố liên quan đến tiên lượng của ung thư nội mạc tử cung

1.16. Thể mô bệnh học

1.17. Mức độ xâm lấn cơ tử cung

1.18. Mức độ xâm lấn mạch

1.19. Tế bào dịch rửa ổ bụng

1.20. Tình trạng thụ thể hóc môn

1.21. Độ ác tính của nhân tế bào

1.22. Kích thước khối u

1.23. DNA đa bội và những marker sinh học khác

1.24. Một số yếu tố khác

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Thiết kế nghiên cứu

2.6. Công thức tính cỡ mẫu

2.7. Phương pháp chọn mẫu

2.8. Phương tiện nghiên cứu

2.9. Tiến hành nghiên cứu

2.10. Các biến số và chỉ số nghiên cứu

2.11. Thu thập và xử lý số liệu

2.12. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm bệnh nhân tại thời điểm ban đầu

3.2. Tình hình sản phụ khoa

3.3. Triệu chứng phát hiện bệnh

3.4. Đặc điểm khối u

3.5. Đặc điểm thể mô bệnh học

3.6. Đặc điểm độ mô học

3.7. Tình trạng thụ thể hormone

3.8. Tình trạng di căn hạch

3.9. Phân loại giai đoạn bệnh theo FIGO

3.10. Đánh giá kết quả điều trị ung thư nội mạc tử cung

3.11. Các phương pháp điều trị ung thư nội mạc tử cung

3.12. Tình hình tử vong sau điều trị

3.13. Tình hình tái phát

3.14. Tình hình di căn

3.15. Thời gian sống thêm

3.16. Đánh giá các yếu tố tiên lượng ung thư nội mạc tử cung

3.17. Liên quan của yếu tố tuổi

3.18. Liên quan của kích thước khối u

3.19. Liên quan của mức độ xâm lấn cơ tử cung

3.20. Liên quan của hạch di căn

3.21. Liên quan của thể mô bệnh học

3.22. Liên quan của độ mô học

3.23. Liên quan của thụ thể hormone

3.24. Liên quan của giai đoạn bệnh

3.25. Phân tích mối liên quan đa biến

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm bệnh nhân tại thời điểm ban đầu

4.2. Tuổi và tình hình sản phụ khoa

4.3. Đặc điểm kích thước u, mức độ xâm lấn u và giai đoạn bệnh

4.4. Đặc điểm thể mô bệnh học

4.5. Đặc điểm độ mô học

4.6. Tình trạng thụ thể hormone

4.7. Tình trạng di căn hạch

4.8. Kết quả điều trị ung thư nội mạc tử cung

4.9. Các phương pháp điều trị ung thư nội mạc tử cung

4.10. Tình hình tử vong sau điều trị

4.11. Tình hình tái phát

4.12. Tình hình di căn

4.13. Thời gian sống thêm

4.14. Đánh giá các yếu tố tiên lượng ung thư nội mạc tử cung

4.15. Liên quan của yếu tố tuổi

4.16. Liên quan của kích thước khối u

4.17. Liên quan của mức độ xâm lấn cơ tử cung

4.18. Liên quan của hạch di căn

4.19. Liên quan của thể mô bệnh học

4.20. Liên quan của độ mô học

4.21. Liên quan của thụ thể hormone

4.22. Liên quan của giai đoạn bệnh

4.23. Phân tích đa biến các yếu tố liên quan tới ung thư nội mạc tử cung

ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về ung thư nội mạc tử cung

Ung thư nội mạc tử cung (ung thư nội mạc tử cung) là loại ung thư phụ khoa phổ biến nhất ở các nước phát triển. Tại Mỹ, nó chiếm 6% tổng số ung thư ở nữ giới. Tại Việt Nam, ung thư này đứng thứ hai trong các loại ung thư phụ khoa, với hơn 4.000 ca mới mắc mỗi năm. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi tác, tình trạng hormone và tiền sử bệnh lý. Việc điều trị ung thư nội mạc tử cung thường bao gồm phẫu thuật, hóa trị, xạ trị và điều trị nội tiết. Phẫu thuật là phương pháp chính cho giai đoạn sớm, trong khi hóa trị và xạ trị thường được áp dụng cho giai đoạn muộn. Mặc dù có tiên lượng tốt, việc xác định các yếu tố tiên lượng là rất quan trọng để cải thiện kết quả điều trị.

1.1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

Bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung thường có triệu chứng ra máu âm đạo, đặc biệt là sau mãn kinh. Các triệu chứng khác có thể bao gồm cảm giác căng tức vùng chậu. Để chẩn đoán, các phương pháp như siêu âm, CT và MRI được sử dụng để đánh giá mức độ xâm lấn. Định lượng CA-125 cũng có thể hỗ trợ trong việc phát hiện ung thư. Phân loại mô bệnh học theo WHO giúp xác định loại ung thư và độ ác tính, từ đó đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

II. Phương pháp điều trị ung thư nội mạc tử cung

Điều trị ung thư nội mạc tử cung bao gồm nhiều phương pháp khác nhau, trong đó phẫu thuật là phương pháp chính cho giai đoạn I và II. Phẫu thuật triệt căn thường được thực hiện để loại bỏ khối u và các mô xung quanh. Trong trường hợp bệnh đã lan rộng, hóa trị và xạ trị trở thành lựa chọn chính. Hóa trị có thể được sử dụng để giảm kích thước khối u trước phẫu thuật hoặc để điều trị sau phẫu thuật nhằm ngăn ngừa tái phát. Xạ trị cũng có thể được áp dụng để kiểm soát triệu chứng và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.

2.1. Đánh giá kết quả điều trị

Kết quả điều trị ung thư nội mạc tử cung được đánh giá qua tỷ lệ sống thêm và tỷ lệ tái phát. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sống thêm sau 5 năm có thể đạt từ 70% đến 80% đối với bệnh nhân giai đoạn sớm. Tuy nhiên, tỷ lệ này giảm đáng kể ở giai đoạn muộn. Việc theo dõi và đánh giá các yếu tố tiên lượng như kích thước khối u, mức độ xâm lấn và tình trạng thụ thể hormone là rất quan trọng để cải thiện kết quả điều trị.

III. Yếu tố tiên lượng trong ung thư nội mạc tử cung

Các yếu tố tiên lượng trong ung thư nội mạc tử cung bao gồm tuổi tác, kích thước khối u, mức độ xâm lấn cơ tử cung và tình trạng di căn hạch. Nghiên cứu cho thấy tuổi tác cao và kích thước khối u lớn thường liên quan đến tiên lượng xấu. Mức độ xâm lấn cơ tử cung cũng là một yếu tố quan trọng, với những bệnh nhân có mức độ xâm lấn cao có nguy cơ tái phát cao hơn. Tình trạng thụ thể hormone cũng ảnh hưởng đến tiên lượng, với những bệnh nhân có thụ thể hormone dương tính thường có tiên lượng tốt hơn.

3.1. Phân tích mối liên quan đa biến

Phân tích đa biến cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa các yếu tố tiên lượng và kết quả điều trị. Các yếu tố như kích thước khối u, mức độ xâm lấn và tình trạng thụ thể hormone có thể được sử dụng để xây dựng mô hình tiên lượng cho bệnh nhân. Việc xác định các yếu tố này không chỉ giúp cải thiện kết quả điều trị mà còn hỗ trợ trong việc lập kế hoạch điều trị cá nhân hóa cho từng bệnh nhân.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sinh bệnh học và di căn hạch trong ung thư nội mạc tử cung 1. Sinh bệnh học ung thư nội mạc tử cung Hiện nay trên thế giới chia ung thư biểu nội mạc tử cung thành hai thể, loại phụ thuộc và loại không phụ thuộc estrogen. Loại phụ thuộc estrogen chiếm 75% - 85%, thường xảy ra ở người trẻ, hoặc ở tuổi mãn kinh với tiền căn có sử dụng estrogen không kèm progesteron, dù là estrogen nội sinh hay ngoại sinh.

Ở những phụ nữ này, tăng sinh nội mạc tử cung tiến triển thành ung thư và loại ung thư này thường có khuynh hướng biệt hóa tốt và có tiên lượng tốt hơn. Loại không phụ thuộc estrogen xảy ra ở những phụ nữ không có sử dụng estrogen, không có tăng sinh nội mạc tử cung, ung thư phát triển trên nền nội mạc xơ teo, thường kém biệt hóa và có tiên lượng xấu hơn. Loại này thường xảy ra ở phụ nữ lớn tuổi, mãn kinh, gầy và có tỷ lệ cao ở phụ nữ Mỹ gốc Phi và gốc Á. Nghiên cứu phân tử cho thấy loại phụ thuộc estrogen có đột biến ở gen ức chế PTEN và ở gen sinh ung thư K-ras, còn loại không phụ thuộc estrogen có đột biến trên p53 [9],[10].

Các đường lan tràn ung thư trong UTNMTC Xâm lấn trực tiếp là con đường lan tràn chủ yếu của bệnh, khởi đầu là xâm lấn lớp niêm mạc, tới lớp cơ, thậm chí ra tới lớp nhanh mạc và các cơ quan, cấu trúc kế cận quanh tử cung. Bệnh có thể lan xuống ống cổ và cổ tử cung. Lan tràn qua vòi trứng hai bên: việc xuất hiện tế bào ung thư trong dịch ổ bụng, dịch rửa ổ bụng và di căn lan tràn trong ổ bụng xuất hiện ngay cả khi luan an 4 tổn thương nguyên phát còn sớm, khu trú trong buồng tử cung là minh chứng khách quan cho con đường này. Việc nong lỗ cổ tử cung và nạo buồng cổ tử cung cũng được cho là một yếu tố làm tăng nguy cơ di căn lan tràn qua vòi trứng vào ổ phúc mạc.

Di căn theo đường bạch huyết tới hạnh châu bịt 2 bên và hạch chủ bụng. Mặc dù đường di căn thông thường là từ thân tử cung tới hạch chậu rồi tới hạch chủ bụng, xong cũng có nhiều trường hợp di căn ngay tới hạch chủ bụng, khi hạch chậu bịt âm tính [11]. Di căn vào âm đạo thường ít gặp và thường xuất hiện tái phát tại âm đạo do việc cấy tế bào ung thư vào mỏm cụt âm đạo trong khi phẫu thuật, hoặc làm thủ thuật nạo buồng tử cung. Di căn theo đường máu có thể cho di căn tới phổi, gan, não, xương, nhưng gặp với tỷ lệ thấp (2%) khi nguyên phát còn khu trú trong giới hạn tử cung [11],[12].

Bạch huyết và di căn hạch của ung thư nội mạc tử cung Các mạch bạch huyết ở cổ và thân tử cung nối nhau và đổ vào một thân chung chạy dọc bên ngoài động mạch tử cung và cuối cùng đổ vào các hạch bạch huyết cạnh động mạch chậu trong, chậu ngoài, chậu chung và động mạch chủ bụng. Đối với nhóm ung thư còn khu trú ở thân tử cung: hạch chậu ngoài và hạch bịt thường bị di căn. Đối với nhóm ung thư ăn lan đến cổ tử cung: hạch chậu ngoài và hạch chậu chung thường bị di căn hơn [14]. Khi ung thư còn khu trú ở thân tử cung, tỉ lệ hạch chậu chung bị di căn chỉ chiếm 30% của tổng số hạch chậu bị di căn.

Nhưng khi ung thư lan đến cổ tử cung thì tỷ lệ này tăng đến 67% tổng số hạch chậu bị di căn. Nếu hạch bịt bị di căn thì có đến 64% di căn hạch cạnh động mạch chủ bụng, ngược lại hạch bịt không bị di căn thì chỉ có 23% di căn hạch cạnh động mạch chủ bụng [15]. luan an 5 Hình 1. Đường di căn hạch trong ung thư nội mạc tử cung www.com/edomet_nodes.htm Tuy nhiên, thì đường dẫn lưu bạch huyết trong ung thư nội mạc tử cung vẫn chưa rõ ràng, thống nhất.

Hiện tại chỉ thống nhất rằng hạch đầu tiên được dẫn lưu đến là hạch chậu ngoài. Riêng ung thư vùng đáy tử cung, dẫn lưu bạch huyết đi theo bó mạch máu buồng trứng và đến thẳng hạch cạnh động mạch chủ bụng [16],[17]. Bên cạnh hai đường chủ yếu trên còn có thể đi theo mạch máu chậu trong và chậu chung. Một số nghiên cứu khác cho rằng hạch bịt cũng thường bị di căn trong ung thư nội mạc tử cung [18].

Chúng ta cũng nhận thấy do tính chất phong phú đa dạng của đường dẫn lưu bạch huyết đối với thân tử cung, nên tế bào ung thư có thể di căn đến nhiều vị trí hạch khác nhau theo hai cách chính nêu trên, tuy nhiên không nhất thiết phải theo thứ tự mà đôi khi có thể bỏ qua những hạch cửa để đến những hạch xa hơn [15],[17]. Chẩn đoán và phân chia giai đoạn ung thư nội mạc tử cung 1. Đặc điểm lâm sàng của ung thư nội mạc tử cung - Bệnh thường gặp ở phụ nữ độ tuổi 60 - 70 tuổi, trung bình 60 tuổi, 75% các trường hợp lớn hơn 50 tuổi [6]. - Khoảng 90% bệnh nhân có triệu chứng ra máu hay dịch ở âm đạo sau mãn kinh.

Hoặc ra máu âm đạo giữa chu kì kinh hoặc đa kinh ở nhóm phụ nữ chưa mãn kinh [6],[16]. - Một số bệnh nhân có cảm giác căng tức hoặc khó chịu ở vùng chậu do thân tử cung to ra hoặc do ung thư an lan ra khỏi tử cung. - Một số trường hợp không ra máu âm đạo do cổ tử cung bị xơ teo, nhất là ở bệnh nhân lớn tuổi, gây ra ứ máu hoặc mủ trong lòng tử cung, những trường hợp này thường có tiên lượng xấu. - Khoảng < 5% bệnh nhân ung thư nội mạc từ cung không có triệu chứng cơ năng hoặc thực thể, những bệnh nhân này thường được phát hiện qua xét nghiệm phết tế bào (PAP) có bất thường, qua cắt tử cung vì lý do khác, qua siêu âm hoặc chụp CT-scan [19],[20].

- Thăm khám lâm sàng: có thể phát hiện tử cung to hoặc không, phát hiện u xâm lấn cổ tử cung hoặc túi bịt ở giai đoạn muộn. Đặt mỏ vịt thấy máu hoặc dịch qua lỗ cổ tử cung [7],[11]. Đặc điểm cận lâm sàng của ung thư nội mạc tử cung - Siêu âm, CT scanner và cộng hưởng từ giúp đánh giá mức độ xâm lấn cơ tử cung tương đối chính xác. Tùy thuộc mức độ xâm lấn chia theo lớn hay nhỏ hơn 1/2 độ dày lớp cơ tử cung, giới hạn xâm lấn đến cổ tử cung hay hơn nữa mà phân chia giai đoạn ung thư nội mạc tử cung.

- Định lượng CA-125 trong huyết tương thường cao trong ung thư biểu mô của buồng trứng, tuy nhiên cũng cao trong ung thư biểu mô nội mạc tử cung giai đoạn muộn hay có di căn. Một công trình nghiên cứu cho luan an 7 thấy CA125 cao trong 78% trường hợp ung thư nội mạc tử cung có di căn hạch [6],[16]. - Giải phẫu bệnh giúp xác định hình thái mô bệnh học, độ mô học Phân loại thể mô học của WHO 2014 (hiện nay được sử dụng rộng rãi, gồm các loại sau): + UTBM tuyến dạng nội mạc (Endometrioid adenocarcinoma) Biến thể với biệt hóa vảy (Variant with squamous differentiation) Biến thể tuyến nhung mao (Villoglandular variant) Biến thể chế tiết (Secretory variant) + UTBM tuyến nhầy (Mucinous adenocarcinoma) + UTBM tuyến thanh dịch (Serous adenocarcinoma) + UTBM tuyến tế bào sáng (Clear cell adenocarcinoma) + UTBM tuyến hỗn hợp (Mixed adenocarcinoma) + UTBM tế bào vảy (Squamous cell carcinoma) + UTBM tế bào nhỏ (Small cell carcinoma) + UTBM không biệt hóa (Undifferentiated carcinoma) + Ung thư thần kinh nội tiết (Neuroendocrine tumor) [6],[10],[17],[21]. Phân độ mô học của ung thư nội mạc tử cung theo WHO (2003) có ba độ mô học sau: + Độ 1 (Grade I) (biệt hóa cao): < 5% các tế bào u sắp xếp thành đám đặc.

+ Độ 2 (Grade II) (biệt hóa vừa): 6 – 50% các tế bào u sắp xếp thành đám đặc. + Độ 3 (Grade III) (biệt hóa thấp): > 50% các tế bào u sắp xếp thành đám đặc. Phần biệt hóa vảy hoặc dạng phôi dâu không xếp vào vùng đặc để phân độ mô học. Độ mô học tăng lên một độ khi nhân không điển hình được xác định là độ 3.

luan an 8 Trong ung thư biểu mô tuyến thanh dịch, tế bào sáng, tế bào vảy thì độ mô học được xem xét dựa vào độ của nhân [19],[21],[22]. Độ ác tính của nhân Độ ác tính được xác định bởi: sự thay đổi kích thước, hình dạng, sự phân bố chất nhiễm sắc và kích thước hạt nhân [21],[23]. + Độ 1: nhân có hình oval hoặc thon dài, chất nhiễm sắc phân tán đều, hạt nhân nhỏ, ít nhân chia. + Độ 3: nhân lớn rõ và đa hình thái, chất nhiễm sắc không đều thô và hạt nhân rõ bắt màu toan, nhiều nhân chia.

+ Độ 2: nhân có đặc điểm giữa độ 1 và độ 3. (Nhân chia hoạt động và nhân chia bất thường gia tăng theo độ nhân) Gần đây, còn có hệ thống phân loại mới chia độ ác tính UTNMTC thành độ thấp (low grade) và độ cao (high grade) dựa vào các tiêu chuẩn sau: Hình dạng nhú hoặc đám đặc là chủ yếu. Chỉ số nhân chia ≥ 6 trên 10 vi trường có độ phóng đại lớn. Nhân không điển hình rõ rệt.

+ Độ thấp: nhiều nhất là có một trong ba tiêu chuẩn trên. + Độ cao: ít nhất có hai trong ba tiêu chuẩn trên [23]. Một số nghiên cứu đưa ra các kết luận về dạng mô học và độ mô học + Carcinôm tuyến dạng nội mạc chiếm khoảng 75- 80%. + Ung thư biểu mô tuyến chế tiết: < 5%, có độ mô học thấp nhưng có tiên lượng tốt.

+ Ung thư biểu mô tuyến nhú thanh dịch: <10%, là thể ác tính, mô học gần giống ung thư thanh dịch của buồng trứng hoặc vòi trứng, thường được phát hiện ở giai đoạn muộn và người già. + Ung thư biểu mô tế bào sáng: < 5%, là thể mô bệnh học có tiên lượng xấu, lan tràn phúc mạc sớm. luan an 9 + Ung thư biểu mô tuyến tế bào vảy thành phần có cả biểu mô tuyến và biểu mô vảy, là thể mô bệnh học có tiên lượng xấu. + Ung thư biểu mô kém biệt hóa tiên lượng xấu [21],[22].

- Các xét nghiệm thường qui khác như điện tâm đồ, công thức máu, nhóm máu, chức năng gan, thận, phân tích nước tiểu. Chụp phổi thẳng để phát hiện xem có di căn phổi không, đồng thời đánh giá tình trạng tim, hô hấp của người bệnh. - Nạo buồng tử cung là thủ thuật để lấy mẫu bệnh phẩm khối u làm chẩn đoán mô bệnh học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về điều trị và yếu tố tiên lượng ung thư biểu mô nội mạc tử cung giai đoạn I II" của tác giả Trần Giang Châu, dưới sự hướng dẫn của PGS. Bùi Diệu và PGS. Nguyễn Văn Tuyên, được thực hiện tại Trường Đại Học Y Hà Nội vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá kết quả điều trị và các yếu tố tiên lượng liên quan đến ung thư biểu mô nội mạc tử cung ở giai đoạn I và II. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp điều trị mà còn chỉ ra những yếu tố có thể ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh, từ đó giúp các bác sĩ và nhà nghiên cứu có thêm thông tin hữu ích trong việc quản lý và điều trị bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực ung thư và các phương pháp điều trị, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Nghiên cứu ứng dụng phương pháp cắt khối tá tụy và nạo hạch trong điều trị ung thư vùng đầu tụy, nơi nghiên cứu về các phương pháp phẫu thuật trong điều trị ung thư, hoặc Nghiên cứu điều trị bảo tồn ung thư nguyên bào võng mạc bằng laser diode, một nghiên cứu về điều trị bảo tồn trong ung thư. Cả hai tài liệu này đều cung cấp những góc nhìn bổ ích về các phương pháp điều trị ung thư hiện đại.