Chương I, với tiêu đề Khái quát chung về bảo hộ sáng chế và điều kiện bảo hộ sáng chế, tác giả xin trình bày nội dung lý luận cơ bản về bảo hộ sáng chế và điều kiện bảo hộ sáng chế. Trong Chương này, trên cở sở nêu và phân tích một cách khái quát các vấn đề khoa học về sáng chế và bảo hộ sáng chế, tác giả làm rõ khái niệm, nội dung, bản chất pháp lý của điều kiện bảo hộ sáng chế cũng như vị trí và vai trò của nó trong các quy định về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế nói chung. Chương II có tiêu đề: Quy định của pháp luật Việt Nam về các điều kiện bảo hộ sáng chế. Trong nội dung Chương này, tác giả trình bày, phân tích và đánh giá các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về các điều kiện bảo hộ sáng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điều kiện bảo hộ sáng chế trong pháp luật Việt Nam chế cũng như các thủ tục xét nghiệm, đánh giá các giải pháp kỹ thuật đăng ký bảo hộ sáng chế dựa trên các quy định pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế.
Chương III có tiêu đề: Thực tiễn áp dụng và một số phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ sáng chế. Trong Chương này, tác giả đi sâu vào phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ sáng chế. Đồng thời, dựa trên cơ sở khoa học pháp lý và tham khảo các kinh nghiệm của các nước tiên tiến trong việc xây dựng điều kiện bảo hộ sáng chế cũng như thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam, tác giả trình bày một số đề xuất của mình nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ sáng chế. Do trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế, kinh nghiệm của tác giả chủ yếu tập trung trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn, đồng thời, đây cũng là công trình nghiên cứu khoa học đầu tay, vậy nên, luận văn không thể tránh khỏi những sai sót nhất định.
Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và giúp đỡ từ phía các Quý thầy cô và bạn bè, đồng nghiệp. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điều kiện bảo hộ sáng chế trong pháp luật Việt Nam CHƢƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ SÁNG CHẾ VÀ ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ SÁNG CHẾ 1. TỔNG QUAN VỀ SÁNG CHẾ VÀ BẢO HỘ SÁNG CHẾ 1. Khái niệm sáng chế 1.
Định nghĩa sáng chế Nhà bác học vĩ đại người Đức Anbert Einstein đã từng phát biểu: “Trí tưởng tượng cao hơn mọi tri thức”. Mặc dù hoàn toàn không hề coi nhẹ tri thức, nhưng qua câu nói này, nhà bác học Einstein đã chuyển tới một thông điệp về việc dựa trên chính những nền tảng hiện có của tri thức đã tích luỹ được, việc nhìn xa hơn ra ngoài giới hạn tiếp theo của của sự khám phá luôn là nguồn gốc của sự tiến bộ cá nhân, văn hoá và kinh tế. Từ những chữ viết xa xưa ở vùng Lưỡng Hà, bàn tính Trung Quốc, máy hơi nước ở Anh vào thế kỷ thứ XVIII, động cơ đốt trong, penexillin, công nghệ nano bán dẫn, dược phẩm DNA tái tổ hợp, và vô số những sáng chế, đổi mới khác, chính trí tưởng tượng của các nhà sáng tạo trên thế giới đã tạo ra khả năng cho loài người đạt đến trình độ tiến bộ ngày nay. Thực vậy, hoạt động sáng tạo và sáng chế là một trong những đặc tính cơ bản nhất tạo nên sự khác biệt giữa loài người với mọi loài vật khác trong quá trình tiến hóa.
Chính khả năng vận dụng đặc tính sáng tạo trong hoạt động lao động sản xuất đã tạo nên những bước tiến quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người. Điều này đã được lịch sử chứng minh qua việc các cuộc cách mạng về công nghệ luôn luôn là một tiền đề khởi đầu cho các cuộc cách mạng khác của xã hội. Hoàn toàn không phải là một sự cường điệu khi có không ít người đã khẳng định rằng, chính những sáng chế của nhân loại từ xưa tới nay đã và đang định hình cuộc sống của chúng ta. Thực tế là hiện nay trình độ phát triển về khoa học kỹ thuật là một trong những thước đo quan trọng nhất để xác định trình độ phát triển về kinh tế xã hội của quốc gia nói chung.
“Sáng chế” là một khái niệm nhằm dùng để chỉ những giải pháp kỹ thuật mới do con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng những nhu cầu cần thiết trong hoạt động lao động sản xuất của con người. Giải pháp kỹ thuật được hiểu là một phương thức để giải quyết một vấn đề cụ thể trong lĩnh vực kỹ thuật. Nói một cách khác, giải pháp kỹ thuật hướng đến mục tiêu làm chủ thiên nhiên của con người. Một đối tượng sẽ được coi là giải pháp kỹ thuật nếu nó tạo điều kiện cho con người khai thác thế gới tự nhiên và thông qua đó thoả mãn những nhu cầu vật chất 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điều kiện bảo hộ sáng chế trong pháp luật Việt Nam và tinh thần của mình.
Quá trình này có thể được diễn ra bằng cách tận dụng các nguồn lực hoặc các quy luật của tự nhiên cũng như bằng cách tác động trực tiếp vào thiên nhiên. Cùng với những tiến bộ và sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật của thế giới, khái niệm sáng chế cũng đang được liên tục mở rộng. Sáng chế không đơn giản chỉ bao hàm các công cụ, máy móc hữu hình mà còn là cả các quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật của tự nhiên. Thậm chí, ở một số quốc gia, khái niệm sáng chế đã được mở rộng ra đến mức vượt ra khỏi quan điểm truyền thống về “bản chất kỹ thuật” của sáng chế vốn đã được biết đến rộng rãi ở các nước.
Ví dụ, ở Hoa Kỳ, phương pháp kinh doanh được coi là sáng chế và được bảo hộ độc quyền. Theo kết quả tổng kết của Cơ quan sáng chế Hoa Kỳ (USPTO), số các giải pháp kinh doanh được cấp bằng sáng chế tại Hoa Kỳ năm 1996 là 700. Đến năm 2000, con số này đã lên tới 2600. Kể từ ngày 1 tháng 8 năm 2000, Hàn Quốc cũng đã chính thức thừa nhận phương pháp kinh doanh như là một đối tượng có khả năng được bảo hộ sáng chế.2 Hình thức của sáng chế Xét trên một khía cạnh nào đó, có thể nói rằng, cuộc sống của chúng ta, nền kinh tế của chúng ta đang được định hình bởi những sáng chế mà con người đã và đang tạo ra.
Từ những vật dụng nhỏ nhất như những đồ dùng cá nhân hàng ngày cho đến những phương tiện sản xuất chủ yếu của xã hội, ít nhiều đều có liên quan đến hoạt động sáng chế. Theo kết quả thống kê của Bộ Thương mại Hoa Kỳ vào năm 1998 về mức độ tác tác động của bằng độc quyền sáng chế đối với nền kinh tế quốc dân đã cho thấy rằng, sáng chế xuất hiện phổ biến ở hầu khắp các lĩnh vực trọng yếu thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia này. Trong ngành vật liệu tiên tiến, sáng chế liên quan đến vật liệu sinh học, chất siêu dẫn nhiệt độ cao, sứ tiên tiến, hợp kim, côm-pô-sit, phim mỏng kim cương, màng và polime lựa chọn. Trong ngành y tế, sáng chế liên quan đến dược phẩm, thuốc chữa bệnh và công nghệ sinh học.
Trong ngành chế tạo ô tô, sáng chế liên quan đến động cơ, truyền động, phanh hãm, bánh điều khiển và lốp, thân và khung xe, tiện nghi và an toàn hành khách, kiểm soát ô nhiễm và công nghệ chế tạo ô tô. Thống kê nói trên phần nào đã cho chúng ta thấy được sự đa dạng và phong phú của các sáng chế trong thực tiễn cuộc sống. Đó có thể là những giải pháp tác động của con người vào thế giới vô sinh như các giải pháp trong lĩnh vực vật lý, hoá học hoặc các thiết kế máy móc, công cụ mới, việc chế tạo ra các vật 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điều kiện bảo hộ sáng chế trong pháp luật Việt Nam liệu nhân tạo từ những chất sẵn có trong thiên nhiên. Đó cũng có thể là sự tác động của con người vào thế giới thực vật như khai thác các lực sinh học của thực vật; phương pháp vi sinh để chế tạo ra các sản phẩm,.
Dưới đây, tác giả xin được liệt kê năm hình thức sáng chế chủ yếu được phần lớn các quốc gia trên thế giới thừa nhận và bảo hộ: - Cơ cấu: Tập hợp các chi tiết có chức năng giống nhau hoặc khác nhau, liên kết với nhau để thực hiện một chức năng nhất định, như dụng cụ, máy móc, thiết bị, chi tiết máy, cụm chi tiết máy hoặc các sản phẩm khác,. - Chất: Tập hợp các phần tử có quan hệ tương hỗ với nhau, được đặc trưng bởi sự hiện diện, tỷ lệ và trạng thái của các phần tử tạo thành và có chức năng nhất định. Chất có thể là hợp chất hoá học, hỗn hợp chất như vật liệu, chất liệu, dược phẩm, v. - Phương pháp: Quy trình thực hiện các công đoạn hoặc hàng loạt các công đoạn xảy ra cùng một lúc hoặc liên tiếp theo thời gian, trong điều kiện kỹ thuật xác định nhờ sử dụng phương tiện xác định như phương pháp hoặc quy trình sản xuất, xử lý, khai thác, đo đạc, thăm dò, v.
- Vật liệu sinh học: Vật liệu có chứa các thông tin di truyền, có khả năng tự tái tạo hoặc được tái tạo trong hệ thống sinh học như tế bào, gen, cây chuyển gen, v. - Sử dụng cơ cấu, chất, phương pháp hoặc vật liệu sinh học đã biết theo chức năng mới như là sử dụng chúng với chức năng khác với chức năng đã biết, như sử dụng hợp phần ARN ở động vật có vú để xác định tung tích của người bị mất tích, v.3:Phân biệt sáng chế với một số đối tượng khác Trước hết, cần phải nhấn mạnh rằng, nội hàm của khái niệm “sáng chế” hoàn toàn không trùng lặp với khái niệm “phát minh”. “Phát minh” được dùng để chỉ những hiểu biết mới, có tính quy luật về tồn tại khách quan mà trước đó con người chưa có khả năng nhận thức được. Trong khi đó, “sáng chế’ lại hướng đến việc giải quyết một nhu cầu cụ thể trong cuộc sống thực tiễn theo một cách thức mang tính sáng tạo.
Giải thích về sự khác nhau giữa “sáng chế” và “phát minh”, một chuyên gia sáng chế người Anh Buckley J.