phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Xu hƣớng diễn ngôn về lịch sử trong văn học Việt Nam đƣơng đại và đôi nét về nhà văn Nguyễn Đình Tú Chƣơng 2. Diễn ngôn về lịch sử trong tiểu thuyết “Xác phàm” ở phƣơng diện nội dung biểu đạt. Diễn ngôn về lịch sử trong tiểu thuyết “Xác phàm” ở phƣơng diện hình thức biểu đạt.
XU HƢỚNG DIỄN NGÔN VỀ LỊCH SỬ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI VÀ ĐÔI NÉT VỀ NHÀ VĂN NGUYỄN ĐÌNH TÚ 1. Xu hƣớng diễn ngôn về lịch sử trong văn học Việt Nam đƣơng đại 1. Quan niệm “diễn ngôn” và “diễn ngôn văn học” 1. Khái niệm “diễn ngôn”.
Theo từ điển New Webster`s Dictionary diễn ngôn đƣợc định nghĩa gồm hai nghĩa. Một là sự giao tiếp bằng tiếng nói (trò chuyện, lời nói, bài phát biểu); hai là sự nghiên cứu tƣờng minh, có hệ thống về một đề tài nào đó (luận án, các sản phẩm của suy luận). Nhƣng theo GS Trần Đình Sử, “cả hai nghĩa trên đều chỉ thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ, nhƣng chƣa nói đến cái nghĩa hiện đại là hình thức của ý thức hệ và quyền lực, cũng chƣa đề cập giao tiếp phi ngôn từ, nhƣ cử chỉ thân thể, sự mô phỏng động tác, sự thay đổi tƣ thế của thân thể, trang phục, nghi thức… Đồng thời cả một lĩnh vực rộng lớn là nghệ thuật nhƣ hội họa, điêu khắc, múa nhảy, âm nhạc, thi ca đều nằm ngoài định nghĩa đó” [41]. Cho đến nay giới nghiên cứu vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về “diễn ngôn”.
Quan niệm khác nhau bắt nguồn từ cách tiếp cận khác nhau, một số nhà nghiên cứu đã hệ thống về ba cách tiếp cận cơ bản và tƣơng đƣơng với các cách tiếp cận ấy là các định nghĩa về khái niệm “diễn ngôn”. Ở hƣớng tiếp cận ngôn ngữ học, “diễn ngôn” đƣợc hiểu nhƣ là việc “sử dụng ngôn ngữ” hoặc “ngôn ngữ trong sử dụng” và “một diễn ngôn” là “một tập hợp rời của một chỉnh thể ngôn ngữ (chẳng hạn nhƣ một bài (viết hay nói) tách ra đƣợc từ trong Tiếng Việt” [6; tr 42]. Với quan niệm này, “diễn ngôn” đƣợc gọi là Discourse để phân biệt với Test (Văn bản). Theo các nhà ngôn ngữ học, Văn bản (Test) là cấu trúc ngôn ngữ mang tính chất tĩnh, còn Diễn ngôn (Discourse) là cấu trúc lời nói mang tính động.
David Crystal cho rằng: 17 “Phân tích diễn ngôn tập trung vào cấu trúc của ngôn ngữ nói xuất hiện một cách tự nhiên trong các diễn ngôn nhƣ lời đàm thoại, phỏng vấn, bình luận và lời nói. Phân tích văn bản tập trung vào các cấu trúc của ngôn ngữ viết, trong các văn bản nhƣ tiểu luận, thông báo, biển chỉ đƣờng và các chƣơng sách”. Michael Stubbs (1983) phân biệt: “Một văn bản có thể đƣợc viết ra, trong khi một diễn ngôn có thể đƣợc nói ra, một văn bản có thể đƣợc tƣơng tác trong khi một diễn ngôn thì không tƣơng tác”. Ở hƣớng tiếp cận phong cách học, có thể coi M.Bkhtin là ngƣời khởi nguồn trong tiểu luận “Vấn đề các thể loại lời nói”.Bkhtin quan tâm đến tính “thoại” của lời nói.
Theo ông, diễn ngôn là ngôn ngữ trong chỉnh thể sống động, cụ thể, là ngôn ngữ trong sử dụng, trong bối cảnh xã hội, của những giọng xã hội mâu thuẫn và đa tầng. Diễn ngôn là nơi hội tụ, tranh biện của những tƣ tƣởng, quan niệm khác nhau về thế giới, nó mang đậm tính chủ thể, vì vậy, “đối thoại là bản chất của diễn ngôn” [35], từ đó, M.Bkhtin cho rằng muốn nghiên cứu phong cách ngôn ngữ hay phong cách cá nhân, không thể không đi sâu tìm hiểu các thể loại lời nói, bởi “bản thân lời nói chỉ có thể tồn tại trong thực tế dƣới hình thức những phát ngôn cụ thể của những lời nói riêng lẻ, những chủ thể của lời nói ấy”. Bkhtin quan niệm: “Thực chất phong cách ngôn ngữ hay phong cách chức năng chẳng phải là cái gì khác, mà chính là phong cách thể loại ở những lĩnh vực nào đó trong hoạt động giao tiếp của con ngƣời”, “mọi thay đổi lịch sử của các phong cách ngôn ngữ đều gắn với sự thay đổi của các thể loại lời nói” [35]. Những tƣ tƣởng của M.Bkhtin, có ảnh hƣởng lớn đến các khuynh hƣớng lý thuyết sau này với các tên tuổi nhƣ: Julia Kristeva trong các khái niệm “liên văn bản”, “liên chủ thể”.
Ở hƣớng tiếp cận xã hội học với vai trò chủ soái là M.Foucault – ngƣời đƣợc coi là ông tổ của các lý thuyết hậu hiện đại và có ảnh hƣởng lớn đến nghiên cứu diễn ngôn từ những năm 60 của thế kỷ trƣớc. Ngƣời ta dựa vào tiểu luận Trật tự diễn ngôn của M.Foucault để hiểu quan điểm của ông về 18 diễn ngôn. Foucault lƣợc quy toàn bộ hoạt động của con ngƣời vào hoạt động ngôn từ, con ngƣời tạo ra ý nghĩa của thế giới, và lọc thế giới qua ngôn ngữ, mọi thứ đều có quan hệ với ngôn ngữ, ngôn ngữ đƣợc biểu hiện dƣới dạng thực tiễn diễn ngôn. Con ngƣời tạo ra các kí hiệu, các diễn ngôn, các mã, đến lƣợt mình - các diễn ngôn lại tạo hình cho cấu trúc xã hội.
Foucault đề nghị coi diễn ngôn ngang với những sự kiện, những hành động tạo nghĩa. Diễn ngôn là đơn vị của ngữ nghĩa chứ không phải của ngữ pháp, đơn vị của diễn ngôn là đơn vị ý nghĩa hoặc hành động của con ngƣời để diễn tả ý nghĩa chứ không phải các đơn vị hình thức của ngôn ngữ. Do lẽ này mà Foucault cho rằng cần thiết phải có nghiên cứu về những điều kiện hình thành các diễn ngôn, ông coi trọng các quan hệ quyền lực, hệ thống tƣ tƣởng xã hội hình thành nên diễn ngôn. Quan niệm về “diễn ngôn” của tác giả luận văn: Từ việc tiếp thu quan điểm nghiên cứu của những ngƣời đi trƣớc, luận văn đƣa ra quan niệm về diễn ngôn để làm cơ sở lý luận cho đối tƣợng nghiên cứu của mình nhƣ sau: Thứ nhất, diễn ngôn là một cấu trúc siêu văn bản, cái biểu đạt của các văn bản trong siêu văn bản này không chỉ ở nội dung cụ thể mà cơ bản là ở cái cơ chế, nguyên tắc tạo thành nên các văn bản ấy; thứ hai, diễn ngôn là sản phẩm của môi trƣờng văn hóa, chịu tác động, chi phối của đời sống lịch sử - xã hội và văn hóa.
Thời đại, thể chế chính trị ảnh hƣởng và đặt ra quy ƣớc cho diễn ngôn; thứ ba, diễn ngôn là sự kiến tạo thế giới theo quan điểm, tƣ tƣởng của cá nhân. Thực tiễn khách quan tồn tại ngoài chủ thể, song, nó đƣợc kiến tạo lại qua tƣ tƣởng, nhận thức, quan điểm của chủ thể diễn ngôn. Diễn ngôn văn học Diễn ngôn văn học là hình thức sử dụng ngôn từ để chuyển tải tri thức văn hóa của thời đại thông qua các phƣơng thức đặc trƣng thể loại của văn học. Diễn ngôn văn học là một bộ phận của hệ hình tƣ tƣởng, tƣ tƣởng của 19 mỗi thời, mỗi thể chế chính trị sẽ chi phối cách thức sử dụng các phƣơng thức thể hiện của diễn ngôn - tác phẩm, nhƣ: cách lựa chọn đề tài, phƣơng thức phản ánh, cách sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu… Mỗi tác phẩm văn chƣơng là một diễn ngôn nghệ thuật, tuy nhiên cấu trúc mỗi văn bản văn chƣơng có thể Thống hợp trong nó nhiều diễn ngôn, mỗi diễn ngôn cũng có thể gồm nhiều phát ngôn.
Các phát ngôn này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đƣợc hợp thức hoá, chính thống hoá theo những quy tắc nhất định. Các thể loại văn học khác nhau có các dạng thức phát ngôn khác nhau, phát ngôn của tác giả, phát ngôn của tác phẩm. Tính chủ thể - nhà văn mặc dù bị/ đƣợc chi phối bởi quan điểm chính trị, tƣ tƣởng của thể chế chính trị - xã hội, song, chủ thể - nhà văn, nhất là những cây bút tài năng vẫn sẽ tìm cách vận dụng tri thức nhân loại để khẳng định tối đa quan điểm cá nhân, thể nghiệm những sáng tạo nghệ thuật thông qua việc vận dụng những lý thuyết mới. Diễn ngôn văn học vì vậy, mang tính nghệ thuật, tác phẩm văn chƣơng là diễn ngôn nghệ thuật.
Với ƣu thế ấy, diễn ngôn với tƣ cách là tác phẩm văn chƣơng, không chỉ dựng lại diện mạo thế giới mà còn tạo lập cách nhìn mới thế giới, tạo ra thế giới mới, ở nó chứa đựng cả vô thức lịch sử lẫn tiềm thức, ý thức của chủ thể sáng tạo ra nó. Tác phẩm văn chƣơng - Diễn ngôn nghệ thuật khi ấy, vừa biểu hiện ý chí vƣơn tới quyền lực vì tự thân nó có khả năng tạo ra hiện thực, tạo ra tri thức, mặt khác nó còn tạo ra một cuộc chơi có quy tắc, hoặc đƣợc ngầm hiểu giữa những ngƣời chơi. Ở cấu trúc diễn ngôn, nguyên tắc trò chơi và nguyên tắc nhận thức không loại trừ, phủ định nhau. Khái niệm diễn ngôn vận dụng vào nghiên cứu văn học cho phép ta hiểu mới, hiểu lại các khái niệm đã quen mà chƣa hiểu sâu, nhƣ khái niệm phong cách, phong cách thời đại, phong cách cá nhân… Nhƣ vậy, tiểu thuyết Xác phàm của Nguyễn Đình Tú là diễn ngôn văn học, luận văn sẽ căn cứ vào những đặc trƣng của diễn ngôn văn học để vận dụng nghiên cứu tiểu thuyết Xác phàm với tƣ cách là một diễn ngôn văn học về lịch sử.
Xu hướng diễn ngôn về lịch sử trong văn học Việt Nam đương đại 1. Quan niệm về truyện lịch sử và diễn ngôn về lịch sử Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ (Hoàng Phê chủ biên), thuật ngữ “lịch sử” đƣợc hiểu theo ba nghĩa: thứ nhất “Quá trình phát sinh, phát triển đã qua hay cho đến tiêu vong của một hiện tƣợng, một sự vật nào đó” (Lịch sử Việt Nam, Lịch sử thế giới cổ đại, Lịch sử tiếng Việt); thứ hai “Khoa học nghiên cứu về quá trình phát triển của xã hội loài ngƣời nói chung, hay của một quốc gia, một dân tộc nói riêng” – môn Lịch sử; thứ ba “Thuộc về lịch sử của các quốc gia, dân tộc; có tính chất, ý nghĩa quan trọng trong lịch sử (sự kiện lịch sử, Bước ngoặt lịch sử, Sứ mạng lịch sử) [37, tr 716]. Theo Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, xét từ nguyên, từ “lịch sử” (histoire) có đến 6 nghĩa: một là “chuyện kể”; hai là “chuyện đã xảy ra”; ba là “chỉ quá trình phát triển” (Mác nói về quan điểm lịch sử); bốn là “đời sống của con ngƣời xã hội” (Trong Gia đình thần thánh Mác nói, “Lịch sử chẳng phải cái gì khác mà chính là cuộc sống của con ngƣời theo đuổi một mục đích của mình.