phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung gồm 3 chương: Chƣơng 1: Nhà văn Hoàng Quảng Uyên và những vấn đề lí thuyết liên quan đề tài. Chƣơng 2: Một số biểu hiện của cảm thức lịch sử trong Mặt trời Pác Bó của Hoàng Quảng Uyên. Chƣơng 3: Một số hình thức nghệ thuật biểu hiện cảm thức lịch sử trong Mặt trời Pác Bó của Hoàng Quảng Uyên. 8 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 NHÀ VĂN HOÀNG QUẢNG UYÊN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐỀ TÀI 1.
Nhà văn Hoàng Quảng Uyên 1. Cuộc đời và sự nghiệp Nhà văn Hoàng Quảng Uyên tên khai sinh là Hoàng Dương Quý sinh ngày 27/9/1950 tại làng Pác Cam, xã Quốc Phong, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng. Ông là người dân tộc Nùng. Bút danh Hoàng Quảng Uyên được lấy từ họ Hoàng ghép với tên huyện Quảng Uyên quê hương mà thành.
Với bút danh này ông đã dần xây dựng được tên tuổi trong làng văn xuôi miền núi, đồng thời gây được nhiều dấu ấn với bạn đọc gần xa. Thời niên thiếu, nhà văn đã từng theo học hết cấp 1 và cấp 2 ở trường huyện Quảng Uyên. Lên cấp 3, ông thi đỗ vào lớp chuyên Toán trườngTrung học phổ thông huyện Quảng Uyên. Từ năm 1968 đến năm 1972, với nền tảng chuyên Toán ở trường phổ thông, nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã thi đỗ vào khoa Vật Lý trường Đại học sư phạm Việt Bắc (nay là trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên).
Tuy theo học khối khoa học tự nhiên nhưng Hoàng Quảng Uyên lại có niềm say mê với văn học. Ông đã vận dụng những kiến thức cơ bản về khoa học đó vào trong các sáng tác của mình. Chính điều này đã làm cho tác phẩm của Hoàng Quảng Uyên có nhiều điểm riêng so với các nhà văn khác. Từ năm 1973 đến năm 1980, Hoàng Quảng Uyên có 17 năm gắn bó với sự nghiệp giáo dục và các em học sinh.
Ông là một nhà giáo có kiến thức chuyên môn vững vàng, lối giảng dạy dí dỏm. Vì vậy thầy giáo Uyên nhận được nhiều tình cảm yêu mến của các em học sinh ở khắp các nơi trong tỉnh. 9 Tình yêu với ngành giáo dục vẫn còn đó, nhưng với niềm say mê khám phá đời sống xã hội, Hoàng Quảng Uyên lại tìm cho mình một ngả rẽ mới. Từ năm 1980 đến năm 1981, ông chuyển sang làm báo và công tác tại Đài phát thanh tỉnh Cao Bằng.
Thời gian làm báo khá ngắn ngủi, gian khổ nhưng đây cũng là quãng thời gian đẹp đẽ trong cuộc đời ông. Nhà văn đã từng tâm sự cho rằng những năm còn là phóng viên Đài phát thanh Cao Bằng là những năm tháng gian khổ mà đẹp trong nghề làm báo, những năm buồn ít, vui nhiều. Không ngừng theo đuổi tình yêu với văn học, từ năm 1986 đến năm 1989, Hoàng Quảng Uyên theo học khoá 3 trường Viết Văn Nguyễn Du. Theo học trường Viết Văn Nguyễn Du là mốc đánh dấu quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Hoàng Quảng Uyên.
Ở đây, ông được đào tạo bài bản, chính quy, chuyên nghiệp cả về kiến thức, kĩ năng và tác phong nghề nghiệp, phục vụ bổ trợ cho sự nghiệp viết văn sau này. Sau thời gian học ở trường, Hoàng Quảng Uyên cho ra đời hàng loạt tác phẩm được đông đảo bạn đọc đón nhận. Năm 1990, Hoàng Quảng Uyên được nghỉ chế độ. Thời gian này ông tập trung vào sáng tác, viết nhiều và viết hay hơn.
Người ta biết đến Hoàng Quảng Uyên như một cây bút kí tinh tế, và có sức sáng tạo dồi dào. Đi đến đâu, Hoàng Quảng Uyên cũng chăm chỉ tìm tòi, ghi chép. Vì vậy, sau năm 1990, ông có rất nhiều tác phẩm được nhận giải thưởng như: Buồn vui - tập kí, giải C Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, 2000, Một mình trong cõi thơ - tiểu luận - Chân dung văn học giải C Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2000… Từ năm 1998 đến năm 2000, Hoàng Quảng Uyên công tác ở báo Văn nghệ. Năm 2008, ông mất đi người vợ yêu dấu.
Nhưng vượt lên trên nỗi đau không gì bù đắp đó, ông tập trung vào viết nhiều hơn, sâu sắc hơn. Trong 10 những năm sau đó, nhà văn cho ra đời cuốn tiểu thuyết lịch sử Mặt trời Pác Bó và tập truyện Đức Thanh người anh đội nhi đồng cứu quốc. Hiện nay, Hoàng Quảng Uyên là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, ông vẫn tiếp tục quá trình lao động nghệ thuật không ngừng nghỉ, hứa hẹn sáng tạo nhiều tác phẩm mới. Hành trình sáng tác của nhà văn Hoàng Quảng Uyên Nhà văn Hoàng Quảng Uyên là cây bút có sức sáng tạo dồi dào.
Trong vòng 15 năm cầm bút, ông đã có một sự nghiệp sáng tác khá phong phú, có giá trị trên nhiều thể loại khác nhau. Nhà văn đã gặt hái được nhiều thành công với 2 tập kí, 2 tập truyện, 3 tập lí luận phê bình, 2 vở kịch, 1 tiểu thuyết và hàng loạt các bài báo phóng sự. Đầu tiên phải kể đến sự ra đời của tập truyện dài đầu tay Kim Đồng, xuất bản năm 1996. Ngay từ khi ra đời, tác phẩm đã được đông đảo các bạn nhỏ yêu thích, đặc biệt là các em nhỏ miền núi.
Truyện xoay quanh cậu bé Nông Văn Dèn, tuổi nhỏ nhưng rất nhiệt tình hăng hái tham gia cách mạng. Cái chết của Dèn đã trở thành bất tử và tấm gương sáng cho các bạn noi theo. Năm 2012, Hoàng Quảng Uyên tiếp tục xuất bản tập truyện thứ hai: Đức Thanh người anh đội nhi đồng cứu quốc. Tác phẩm viết về đề tài cách mạng, tôn vinh người chiến sĩ cộng sản kiên trung Đức Thanh.
Chính anh là người giúp cho đồng bào quê hương mình nhận thức đầy đủ về cách mạng, đứng lên làm cách mạng thành công. Đồng thời, người chiến sĩ ấy đã góp phần nâng cao đời sống của người dân, từ bỏ những tập lạc hậu, một lòng một dạ tin vào Đảng, vào Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Nhưng Hoàng Quảng Uyên được biết đến nhiều hơn là ở thể loại kí. Đây là thể loại sở trường của ông.
Kí của Hoàng Quảng Uyên xoay quanh hai mảng đề tài chính: Đề tài dân tộc miền núi và đề tài người trí thức trong công cuộc 11 xây dựng đổi mới đất nước. Ngoài ra, nhà văn còn dành một góc nhỏ để viết về mảng chống tệ nạn xã hội. Trong mảng đề tài dân tộc và miền núi, ông tập trung viết về thiên nhiên và những con người vùng cao ở mọi miền mà nhà văn có dịp đi qua, đã chứng kiến và cảm nhận. Thiên nhiên trong sáng tác của Hoàng Quảng Uyên rực rỡ sắc màu và tràn trề nhựa sống.
Nổi trên nền khung cảnh tuyệt đó là những con người mới, những thầy giáo, cô giáo, thầy thuốc, nhà thơ, giám đốc… đang cần mẫn từng ngày đem tri thức, vốn hiểu biết của mình về thôn bản làm cho vùng đất Cao Bằng thêm tươi sáng, thay da đổi thịt. Hàng loạt các tác phẩm kí của Hoàng Quảng Uyên ra đời, đem về cho ông nhiều giải thưởng cao quý: Tập kí Buồn vui (NXB Văn hóa dân tộc, 1999) đã giúp nhà văn giành giải C của Hội Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 1999. Trong tập này có 25 bài kí ở nhiều đề tài khác nhau mà ông dày công sáng tác trên khắp nẻo đường đi qua. Nội dung tập kí phản ánh những vui buồn trong cuộc sống của con người miền núi.
Với bản tính bộc trực, thẳng thắn, dám nêu lên những “góc khuất” của đời sống, nên kí của Hoàng Quảng Uyên được đông đảo độc giả yêu thích, tìm đọc. Tiêu biểu phải kể đến bài kí Thầy giáo Đại học, một tác phẩm đã giúp ông giành giải B (không có giải A) của Bộ Đại học - Trung học chuyên nghiệp năm 1988. Sáng tác này đã gây xôn xao dư luận, bởi tính thời sự nóng hổi của nó, sẵn sàng vạch ra những chỗ tối của xã hội tồn tại trong một cái vẻ mĩ miều chân chính. Bài kí khẳng định nét tính cách bộc trực, thẳng thắn của nhà văn, một phẩm chất đáng quý của đồng bào dân tộc thiểu số trong đó có dân tộc Nùng.
Tập kí Vọng tiếng non ngàn xuất bản năm 2001 gồm 4 phần, mỗi phần là tập hợp những bài kí khác nhau cùng chung một đề tài. Phần 1: Tiếng xưa gồm 5 bài kí. Trong đó Vọng tiếng non ngàn là bài kí khá xuất sắc, thể hiện trực tiếp 12 cảm nhận của tác giả đối với tiếng gọi của lịch sử tràn về một nơi thâm u, rừng thiêng nước độc - khu rừng Trần Hưng Đạo. Phần 2: Gương mặt cuộc đời gồm 12 bài, chủ yếu viết về con người trí thức đang từng ngày xây dựng cuộc sống mới trên vùng đất Cao Bằng.
Đó là những thầy giáo, cô giáo, giám đốc… Phần 3: Muôn nẻo ghập ghềnh gồm 5 bài: Vời cao Páo Lò, Trăm năm Lủng Thin Tốc, Ăn mặn. khát nước!, Thuốc đắng, Mía ơi, bao giờ mía ngọt! Các tác phẩm này ghi lại những trăn trở của nhà văn khi ông trực tiếp tham gia, chứng kiến nỗi gian truân, gập ghềnh của bà con dân tộc thiểu số, ở mọi vùng đất tác giả đi qua, cảm nhận. Phần 4: Lời ngỏ gồm 3 bài. Đó là những tâm sự của tác giả Dọc đường phóng sự, từ khi mới bước vào nghề, cho đến khi trở thành một nhà văn thực thụ, được nhiều người biết đến.
Ngoài viết truyện và kí, Hoàng Quảng Uyên còn gặt hái được nhiều thành công trong lĩnh vực lí luận phê bình. Thể loại này ông bắt đầu sáng tác từ sau năm 1990, nhưng cho đến nay nhà văn đã có 3 tập lí luận - phê bình khá dày dặn: Một mình trong cõi thơ (2007), “Nhật kí trong tù” và số phận lịch sử (2007), Đi tìm “Nhật kí trong tù” (2009). Một mình trong cõi thơ gồm 20 bài, viết về mười bảy nhà thơ dân tộc, miền núi. Tác phẩm là cảm nhận của Hoàng Quảng Uyên về các sáng tác của mỗi nhà thơ.
Từ đó, nhà văn thu nhận, đồng cảm, phát biểu qua lăng kính của mình, khắc hoạ cho người đọc chân dung của mỗi thi sĩ. Đó là những con người trưởng thành từ những miền xa xôi, lam lũ, khổ cực, từng trải để cho ra đời các tác phẩm gần gũi phản ánh thiên nhiên, phong tục, tập quán của đồng bào mình. “Nhật kí trong tù” và số phận lịch sử xuất bản 2007, gồm 5 phần. Tác phẩm là một hành trình tìm lại những nhân chứng lịch sử và con đường trở về của tác phẩm Ngục trung nhật kí của Chủ tịch Hồ Chí Minh.