Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Mikhail Mikhailovich Bakhtin và lí thuyết về “thể loại lời nói” hay lời nói/ diễn ngôn mang tư tưởng hệ 1. Tiểu thuyết như là một “thể loại lời nói” thứ sinh ❖ Vài nét về Mikhail Mikhailovich Bakhtin Mikhail Mikhailovich Bakhtin (1895 - 1975) là nhà nghiên cứu khoa học xã hội, khoa học nhân văn lỗi lạc của Liên Xô (cũ), nổi tiếng với những tác phẩm nghiên cứu về triết học Marx, văn học và mỹ học trong đó được biết đến nhiều nhất trong giới nghiên cứu là các công trình Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian thời Trung cổ - Phục hưng và Những vấn đề thi pháp Dostoevski. Sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, năm 1913, Bakhtin theo học khoa Lịch sử - Ngữ văn thuộc Trường đại học tổng hợp Sankt - Peterburg và tốt nghiệp năm 1918.
Trong những năm nội chiến 1918 - 1922, ông về dạy học ở Vitebsk và đến năm 1923 thì trở lại Peterburg…. Tuy viết nhiều và hoạt động sôi nổi nhưng phải đến năm 1929, khi đã 34 tuổi, Bakhtin mới cho in cuốn sách đầu tiên mang tên mình, cuốn Những vấn đề của sáng tác Dostoevski (sau này tái bản có sửa chữa và bổ sung dưới tên Những vấn đề thi pháp Dostoevski). Tuy vậy, sự nghiệt ngã của số phận đã khiến tác giả không được thấy mặt cuốn sách khi công bố lần đầu: do tham gia một nhóm nghiên cứu tôn giáo, ông bị kết án phạm tội chính trị và tuyên phạt 10 năm tù khổ sai và chỉ khi những người thân lo liệu nhà đương cục giảm án mới được rút xuống thành 5 năm lưu đày tại Bắc Kazakhstan. Phải đến tận năm 1966, tòa án tối cao 14 Cộng hòa Liên Bang Nga mới xét lại và phục hồi danh dự cho tất cả những người bị kết tội.
Trong suốt cuộc đời phải chiến đấu với bệnh tật và cả những định kiến chính trị cũng như những rào cản nhận thức của thời đại, M. Bakhtin vẫn để lại một di sản khoa học đồ sộ, có giá trị, được vận dụng rộng rãi trong các ngành khoa học xã hội – nhân văn. ❖ Khái niệm “thể loại lời nói” và “thể loại lời nói thứ sinh” Đầu tiên ta cần điểm qua khái niệm diễn ngôn (discourse): trong bài nghiên cứu Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm nay, Trần Đình Sử nhân định “Theo từ điển New Webster’s Dictionary diễn ngôn được định nghĩa gồm hai nghĩa: “1. Sự giao tiếp bằng tiếng nói (trò chuyện, lời nói, bài phát biểu) 2.
Sự nghiên cứu tường minh, có hệ thống về một đề tài nào đó (luận án, các sản phẩm của suy luận)” (Trần Đình Sử, 2013) Cả hai nghĩa trên đều chỉ hoạt động giao tiếp nhưng chưa đề cập tới các yếu tố, tác động bên ngoài đến diễn ngôn. Trong phạm vi luận văn, chúng tôi nghiên cứu diễn ngôn theo hướng tiếp cận phong cách học dựa trên lí thuyết của Mikhail Mikhailovich Bakhtin. Tiểu luận “Vấn đề các thể loại lời nói” (The Problem with Speech Genres) viết vào quãng những năm 1952 - 1953 là công trình nghiên cứu thể hiện tập trung nhất quan điểm của Mikhail Mikhailovich Bakhtin về diễn ngôn (thể loại lời nói), ông cho rằng diễn ngôn là ngôn ngữ trong chỉnh thể sống động, cụ thể, là ngôn ngữ trong sử dụng, trong bối cảnh xã hội, của những giọng xã hội mâu thuẫn và đa tầng. Bakhtin là người đầu tiên khởi xướng việc nghiên cứu “thể loại lời nói”, bởi lẽ theo ông phạm trù thể loại lời nói có ý nghĩa vô cùng to lớn 15 trong lịch sử văn học và văn hoá.
Nó là thực tiễn giao tiếp của con người, là “đại diện của ký ức sáng tạo”, là nhân vật truyền tải “những khuynh hướng phát triển “đời đời”, bền vững của văn học” (M. Nói một cách đầy đủ về định nghĩa “thể loại lời nói” trong Vấn đề thể loại lời nói, M. Bakhtin đã nhận định: “Việc sử dụng ngôn ngữ được thực hiện qua hình thức phát ngôn (bằng lời nói hoặc văn viết) cụ thể, đơn nhất của những đối tượng tham gia vào lĩnh vực hoạt động này, hay lĩnh vực hoạt động khác của con người. Những phát ngôn ấy phản ánh hoàn cảnh đặc thù và mục đích của từng lĩnh vực không chỉ ở nội dung (chủ đề) và phong cách ngôn ngữ, tức là ở sự lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ như từ vựng, từ pháp, cú pháp, mà còn ở cách tổ chức kết cấu của nó.
Ba bình diện ấy – nội dung chủ đề, phong cách và tổ chức kết cấu – gắn bó chặt chẽ trong một chỉnh thể phát ngôn và bị những đặc điểm của một phạm vi giao tiếp cụ thể chế định như nhau. Từng phát ngôn cụ thể, dĩ nhiên, mang tính cá thể, nhưng mỗi phạm vi sử dụng ngôn ngữ lại sáng tạo ra những loại hình phát ngôn tương đối bền vững mà chúng tôi gọi là thể loại lời nói. Theo định nghĩa của ông, “thể loại lời nói” là loại hình phát ngôn tương đối bền vững, được tạo ra trong một phạm vi sử dụng ngôn ngữ cụ thể, thể loại lời nói là một chỉnh thể bao gồm ba bình diện: nội dung chủ đề, phong cách và tổ chức kết cấu. Vì khả năng hoạt động của con người là vô cùng, vô tận và mỗi hoạt động lại gắn với một kho các thể loại lời nói không ngừng phát triển, thế nên thể loại lời nói cũng vô cùng đa dạng, phong phú mà chúng ta có thể kể đến như: lời đối đáp trong cuộc sống sinh hoạt, thư từ, các tác phẩm nghệ thuật, các phát biểu khoa học,… Tuy nhiên, theo quan điểm của Bakhtin, chúng ta chú ý đến hai thể loại lời là “thể loại lời nói gốc” (đơn giản) và “thể loại lời nói thứ sinh” (phức tạp).
Ở 16 luận văn này, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến thể loại lời nói thứ sinh, mà cụ thể là tiểu thuyết. Trong khi thể loại lời nói gốc vốn được sinh ra trong những điều kiện giao tiếp trực tiếp bằng lời thì thể loại lời nói thứ sinh ra đời trong những điều kiện giao tiếp văn hóa phức tạp hơn như: giao tiếp nghệ thuật, khoa học, chính trị - xã hội,. Trong quá trình hình thành, thể loại lời nói thứ sinh hấp thụ và nhào nặn các thể rất khác nhau của lời nói gốc, lời nói gốc tự biến đổi trong đó và có một đặc điểm đặc biệt: “chúng đánh mất mối quan hệ trực tiếp với thực tại hiện thực và những phát ngôn lạ trong thực tế”. Và từ đây, M.
Bakhtin khẳng định: “Tiểu thuyết trong chỉnh thể của nó là một phát ngôn giống như lời đối đáp trong đối thoại sinh hoạt hoặc một lá thư của cá nhân (nó cùng có chung một bản chất với chúng), nhưng khác với chúng, đây là phát ngôn thứ sinh (phức tạp). Từ đây, ta rút ra những nhận xét như sau: thứ nhất, tiểu thuyết tiếp thu không chỉ các loại lời nói gốc, mà cả các loại lời nói thứ sinh, đặc biệt là các thể loại văn học. Khả năng dung hợp thể loại là đặc trưng của nó. Do đó, trong các thể loại thứ sinh, tiểu thuyết nằm trong số những thể loại phức tạp hơn cả.
Thứ hai, khi tiểu thuyết sử dụng hình thức của các khu vực lời nói gốc, chẳng hạn trong một phát ngôn cụ thể của nhân vật mang đặc điểm nhóm, ngành xã hội nhất định, thì hình thức ấy phải được nhìn nhận như một yếu tố thuộc chỉnh thể nghệ thuật, tránh sự đối chiếu trực tiếp với thực tại đời sống để quy kết, chụp mũ. Thêm một đặc điểm nữa theo Bakhtin, diễn ngôn là ngôn ngữ trong thực tiễn, trong bối cảnh xã hội. Diễn ngôn là khu vực tiếp xúc giữa người nói và người nghe, khu vực giao hòa, tranh biện của những tư tưởng, quan niệm. Vai trò của diễn ngôn là thiết lập nên mối quan hệ giữa người nói và người nghe, giữa thông tin và kí hiệu.
Vì vậy, Bakhtin cho rằng bản chất của diễn ngôn là đối thoại. Từ những nhận định trên, ta có thể khái quát diễn ngôn được hiểu như là một hoạt động giao tiếp bằng lời nói (ngôn ngữ) và được thể hiện một cách trực 17 tiếp (trò chuyện, lời phát biểu, lời nói,…) hoặc gián tiếp dưới dạng văn bản tác phẩm (trong phạm vi của luận văn là trường hợp lời nói thứ sinh: tiểu thuyết) giữa người nói và người nghe trong một ngữ cảnh nào đó. Diễn ngôn là đối tượng của khoa học xã hội nhân văn, có tính tư tưởng, tính hoạt động xã hội, chính là tính thực tiễn. Tiểu thuyết như là một loại hình lời nói/ diễn ngôn mang tư tưởng hệ Như tất cả các thể loại khác, không chỉ chịu sự chi phối của ngôn từ, tiểu thuyết còn chịu sự chi phối của hệ tư tưởng.
Theo nhà nghiên cứu Jacob Torfing: “Diễn ngôn là kết quả của những cách đọc bá quyền mà mục đích của chúng là xác lập vai trò lãnh tụ về mặt chính trị, cũng như đạo đức - trí tuệ” (Lã Nguyên dịch, 2016). Đồng quan điểm với Jacob, Loius Marin cũng cho rằng: “Diễn ngôn là hình thức tồn tại của cái tưởng tượng được gắn với sức mạnh, cái tưởng tượng có tên là quyền lực” (Lã Nguyên dịch, 2016). Trong tiểu luận Vấn đề các thể loại lời, có thể coi tư tưởng của Bakhtin về các thể loại lời nói là một hướng tiếp cận phong cách học về diễn ngôn, bởi nó nghiên cứu các phong cách ngôn ngữ thông qua các thể loại lời nói. Thể loại lời nói lưu trữ tất cả dữ liệu của cuộc sống, qua nó ta thấy được chiều dài lịch sử nhân loại đã trải qua.
Theo tư tưởng của Bakhtin: “Ở mỗi thời đại, trong mỗi nhóm xã hội, trong từng phạm vi nhỏ bé của gia đình, thân hữu, đồng chí, đồng đội, nơi con người sinh sống và trưởng thành, bao giờ cũng có những phát ngôn, những tác phẩm nghệ thuật, khoa học, chính luận có uy tín rất cao giọng, được người ta dựa vào, viện dẫn, trích dẫn, bắt chước, làm theo. Ở mỗi thời đại, trong tất cả các lĩnh vực hoạt động và đời sống, bao giờ cũng có những truyền thống nào đó được thực hiện và gìn giữ trong bộ lễ phục ngôn từ… Bao giờ cũng có những tư tưởng chủ đạo của các bậc chúa tể trí tuệ ở một thời đại nào đó, những khẩu hiệu, những 18 nhiệm vụ cơ bản nào đó được thể hiện bằng ngôn từ” (M. Với tư tưởng trên, có thể hiểu Bakhtin nhận định mỗi thời đại, mỗi cộng đồng, mỗi lĩnh vực đều có thể loại lời nói riêng của nó, lời nói thứ sinh cũng không ngoại lệ, đặc biệt là tiểu thuyết.