phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp nhà nước trước khi ban hành Luật DNNN 2003. Chƣơng 2: Luật DNNN 2003 một bước phát triển quan trọng của pháp luật về DNNN ở nước ta. Chƣơng 3: Những giải pháp góp phần triển khai Luật DNNN 2003 trên thực tế. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC TRƢỚC KHI BAN HÀNH LUẬT DNNN 2003 1.
Luật Doanh nghiệp Nhà nƣớc năm 1995 - bộ phận cơ bản nhất trong pháp luật điều chỉnh cơ cấu tổ chức, quản lý nội bộ và hoạt động của các DNNN ở Việt Nam. Kể từ sau công cuộc “Đổi mới” được Đảng và Nhà nước ta khởi xướng, Việt Nam đã và đang xây dựng, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo cơ chế kinh tế này, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng với nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, kinh tế quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo.
Bởi vì, “Kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển nhất là trong những ngành và lĩnh vực then chốt, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân”[3] , “Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. DNNN giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật”[2]. Việc thành lập doanh nghiệp nhà nước ở những lĩnh vực then chốt là một công cụ vật chất quan trọng của Nhà nước để điều tiết nền kinh tế thị trường. Để doanh nghiệp nhà nước có một khung pháp lý cho vận hành, Nhà nước đã không ngừng xây dựng và ban hành một loạt văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trước khi Luật DNNN ra đời, đã có một số văn bản quan trọng tạo khung pháp lý cho cơ cấu tổ chức, quản lý nội bộ và hoạt động của DNNN trong thời kỳ này, như: - Quyết định số 217/HĐBT ngày 14/11/1987 của HĐBT ban hành chính sách đổi mới kế hoạch hoá và hạch toán kinh doanh XHCN đối với xí nghiệp quốc doanh (XNQD); - Nghị định 27/HĐBT ngày 22/3/1989 của HĐBT ban hành Điều lệ Liên hiệp các xí nghiệp quốc doanh; - Chỉ thị số 138/ CT ngày 25/4/1991 của Chủ tịch HĐBT v/v mở rộng diện trao quyền sử dụng và trách nhiệm bảo toàn vốn sản xuất, kinh doanh cho các đơn vị cơ sở quốc doanh; - Quyết định 332/HĐBT ngày 23/10/1991 của HĐBT về bảo toàn vốn kinh doanh đối với các DNNN; - Nghị định 338/HĐBT ngày 20/11/1991 của HĐBT về thành lập và tổ chức lại DNNN. Trong hai đợt sắp xếp lại DNNN tiếp theo: - Đợt thứ nhất từ năm 1991 đến 1993, để tập trung giải quyết về tổ chức, xây dựng cơ chế, chính sách tài chính cho sắp xếp các đơn vị cơ sở, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 315/HĐBT ngày 01/9/1990 về giải thể và tổ chức lại những DNNN yếu kém và Nghị định số 388/HĐBT ngày 20/11/1991 về nguyên tắc, điều kiện thành lập lại DNNN; - Đợt thứ hai từ năm 1994 đến trước khi Luật DNNN ban hành, để hình thành hệ thống DNNN, giải thể các Tổng Công ty, Liên hiệp xí nghiệp có tính chất hành chính trung gian và tổ chức những Tổng Công ty có quy mô lớn và quy mô vừa phù hợp với yêu cầu khách quan, bỏ dần chế độ Bộ chủ quản và các cấp hành chính chủ quản, tạo điều kiện thực hiện một bước tập trung hoá 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và nâng cao khả năng tích tụ vốn của các Tổng Công ty, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 90/TTg và Quyết định số 91/TTg ngày 7/3/1994. Sự ra đời các văn bản trên đã tạo cơ sở pháp lý cho DNNN vận hành trong giai đoạn này nhưng vẫn còn một số vấn đề pháp lý chưa giải quyết được, đó là: a. Cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu Nhà nước; b.
Vấn đề giao vốn chưa được làm rõ bản chất pháp lý của hành vi này; c. Chưa phân loại hoạt động kinh doanh và hoạt động công ích của DNNN để có cơ chế điều chỉnh phù hợp; d. Chưa tách bạch quyền quản lý Nhà nước với quyền sở hữu Nhà nước. Bên cạnh đó, như đã nói ở trên, DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường cho nên việc ban hành một văn bản pháp lý có hiệu lực cao (ở mức độ Luật) qui định thống nhất, đồng bộ về cơ cấu tổ chức, quản lý nội bộ và hoạt động của DNNN là rất cần thiết.
Khắc phục những bất cập trên, đồng thời để có một văn bản pháp lý có giá trị hiệu lực cao tương xứng với vai trò của DNNN, ngày 20/4/1995 Quốc hội đã thông qua Luật DNNN đánh dấu sự chuyển đổi quan trọng trong việc tạo lập khung pháp lý cho các DNNN. Cùng với Luật DNNN, có nhiều đạo luật quan trọng khác trong giai đoạn này cùng tác động đến cơ cấu tổ chức, quản lý nội bộ và hoạt động của DNNN như Luật Đất đai, Bộ luật lao động, các luật thuế, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Phá sản doanh nghiệp … Tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh của các đạo luật trên không qui định trực tiếp đến khái niệm DNNN, địa vị pháp lý của DNNN, cơ cấu tổ chức của DNNN…, mà quy định về những quyền và nghĩa vụ cụ thể trong từng lĩnh vực khi DNNN tham gia vào quan hệ pháp luật trong lĩnh vực đó. Chẳng hạn, Luật Đất đai quy định quyền và 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghĩa vụ cụ thể của DNNN trong lĩnh vực đất đai; các luật về thuế quy định các DNNN trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh phải thực hiện nghĩa vụ đóng thuế như thế nào, cách thức thực hiện nghĩa vụ đóng thuế ra sao,…; Bộ luật lao động quy định quyền và nghĩa vụ của DNNN trong quá trình sử dụng lao động như tuyển dụng, bố trí, điều hành, khen thưởng, xử lý kỷ luật lao động…đối với người lao động; Luật Khuyến khích đầu tư trong nước xác định DNNN sẽ được hưởng những ưu tiên, ưu đãi, hỗ trợ gì và cách thức, mức độ hưởng như thế nào từ phía nhà nước; Luật Phá sản doanh nghiệp tạo ra cơ sở pháp lý cho việc chấm dứt sự tồn tại của DNNN. Do vậy, có thể nói rằng Luật DNNN 1995 là bộ phận cơ bản nhất, quyết định nhất vì nó quy định những vấn đề then chốt nhất, bản chất nhất trong pháp luật điều chỉnh cơ cấu tổ chức, quản lý nội bộ và hoạt động của loại hình doanh nghiệp này.
Sau khi Luật DNNN 1995 được Quốc hội thông qua, Chính phủ đã ban hành một văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hoá khung pháp lý cho các DNNN, đó là: - Nghị định số 39/ CP ngày 27/6/1996 ban hành Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Tổng Công ty Nhà nước; - Nghị định số 50/CP ngày 28/8/1996 về thành lập, tổ chức lại, giải thể và phá sản DNNN; - Nghị định số 38/ CP ngày 28/4/1997 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 50/CP ngày 28/8/1996 của Chính phủ về thành lập, tổ chức lại, giải thể và phá sản DNNN; - Nghị định số 56/CP ngày 02/10/1996 về DNNN hoạt động công ích; - Nghị định số 59/CP ngày 03/10/1996 ban hành qui chế tài chính và hạch toán kinh doanh đối với DNNN; 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nghị định số 28/CP ngày 28/3/1997 về đổi mới quản lý tiền lương, thu nhập trong các DNNN; - Nghị định số 27/CP ngày 20/4/1999 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 59/CP ngày 03/10/1996 về ban hành qui chế tài chính và hạch toán kinh doanh đối với DNNN; - Nghị định số 07/1999/NĐ-CP (13/02/1999) ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở DNNN; - Nghị định số 44/1998/NĐ- CP ngày 29/6/1998 của Chính phủ về chuyển DNNN thành công ty cổ phần; - Nghị định số 73/2000/NĐ-CP ngày 06/12/1999 của Chính phủ về việc Ban hành Quy chế quản lý phần vốn nhà nước ở doanh nghiệp khác; - Nghị định số 64/2002/NĐ- CP ngày 29/6/1998 của Chính phủ về chuyển DNNN thành công ty cổ phần. Trên cơ sở Luật DNNN và các văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện Luật này, có thể trình bày khái quát những nội dung cơ bản của khung pháp lý về DNNN như sau: 1. Nhóm quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể và phá sản DNNN. Thành lập DNNN.
Quy trình thành lập DNNN được thực hiện thông qua các bước sau đây: Bước 1. Đề nghị thành lập DNNN. Người đề nghị thành lập DNNN phải lập và gửi hồ sơ đề nghị thành lập DNNN đến người có quyền quyết định thành lập, hồ sơ gồm: Tờ trình đề nghị thành lập doanh nghiệp (“DN”); Đề án thành lập DN; Mức vốn điều lệ và ý kiến bằng văn bản của cơ quan tài chính về nguồn và mức vốn điều lệ được cấp; Dự thảo điều lệ về tổ chức và hoạt động của DN; Giấy đề nghị cho DN sử dụng đất. Có ý kiến bằng văn bản của Chủ tịch UBND tỉnh về quyền sử 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dụng đất và các vấn đề khác có liên quan đến địa phương nơi DN đó đóng trụ sở chính và lập cơ sở sản xuất.
Ngoài ra, Nghị định số 50/CP còn yêu cầu trong hồ sơ đề nghị thành lập phải có: - Kiến nghị về hình thức tổ chức doanh nghiệp. - Bản thuyết trình về các giải pháp bảo vệ môi trường. Trước khi ra quyết định thành lập, cơ quan có thẩm quyền phải thẩm định hồ sơ đề nghị thành lập. Việc thẩm định tập trung làm rõ các vấn đề sau.
- Đề án thành lập doanh nghiệp cần bảo đảm tính khả thi và hiệu quả phù hợp với chiến lược và qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước, đáp ứng yêu cầu công nghệ và quy định của nhà nước về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật.