Chương 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE DIA VỊ PHÁP LY CUA HO KINH DOANH 1. Vi tri, vai trò của hộ kinh doanh trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam Qua 25 năm thực hiện công cuộc đôi mới toàn diện ở Việt Nam, chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phan theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã có nhiều thành tựu quan trọng. Từ một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, Việt Nam đang dan đổi mới khoa học kỹ thuật, cơ cấu kinh tế tiễn tới trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Mức tăng trưởng kinh tế trung bình là 7%/ 1 năm là một dấu hiệu tự hào cho sự đi lên của dân tộc sau khi trải qua hai cuộc chiến tranh và khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Mặc dù tình hình trong nước và quốc tế có rất nhiều khó khăn, thách thức nhưng Đảng và toàn dân ta đã nỗ lực phan đấu hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội Đảng lần thứ X đề ra và tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ Đại hội Đảng lần thứ XI dé tạo nền tảng đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp hóa, theo hướng hiện đại. Từ những năm đầu cải cách kinh tế, thành phần kinh tế cá thể đang trở thành lực lượng hùng hậu không chỉ về số lượng mà còn về tỉ lệ đóng góp cho GDP và ngân sách quốc gia hàng nghìn tỉ đồng. Là một phần của mô hình kinh doanh cá thé, hộ kinh doanh đã và đang phát triển về quy mô và chất lượng, phù hợp với thời đại lịch su, là nhân tổ quan trọng trong viéc giải quyết các vân dé kinh tê, xã hội của dat nước.1Hộ kinh doanh góp phan thúc day nền kinh tế phát triển, giải quyết một phân vấn đề thất nghiệp ở nước ta Do chế độ tự cung tự cấp đã ăn sâu vào tiềm thức của người Việt Nam nên loại hình kinh doanh nhỏ lẻ ít biến động theo thị trường. Với công sức đầu tư nhỏ nhưng thu hồi vốn nhanh, lợi nhuận lớn cùng với các điều kiện thành lập và hoạt động giản đơn, lực lượng lao động déi dao cũng như không cần công nghệ, khoa học kỹ thuật hiện đại nên hộ kinh doanh là một mô hình được nhiều cá nhân hoặc hộ gia đình kinh doanh lựa chon.
Với sự phát triển nhanh chóng, hộ kinh doanh đã xuất hiện ở tất cả các tỉnh, thành phó trên cả nước, từ đồng băng đến miền núi và hải đảo, biên cương của Tổ quốc. Theo cuộc điều tra năm 2009 của Tổng Cục Thống kê, Việt Nam, có tới sap xi 4 triệu hộ kinh doanh trong lĩnh vực phi nông nghiệp. Đến năm 2012, tổng số hộ kinh doanh đã tăng lên khoảng 4.6 triệu hộ, với lĩnh vực kinh doanh rất đa dạng như công nghiệp, xây dựng, chế biến, thương mại, dịch vụ, y tế, giáo dục đào tạo, thể thao. Trong khi kinh tế nước ta vẫn bị ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế thế giới, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang bị phá sản và giải thể thì số lượng hộ kinh doanh vẫn không ngừng tăng lên, thu hút một lượng lớn những người đang độ tuôi lao động.
Theo bảng đánh giá của Tổng cục Thống kê năm 2005, số lao động thuộc nhóm hộ kinh doanh có khoảng 5,6 triệu người. Từ năm 2005 đến nay, số lao động trong các hộ kinh doanh vẫn tiếp tục tăng theo từng năm: năm 2009 cả nước có trên 7 triệu lao động. Năm 2012 đánh giá sơ bộ là khoảng 7,7 triệu lao động, chiếm ty lệ 15% (tổng số lao động cả nước). Trong khi đó, số lượng người lao động trong doanh nghiệp khoảng 8,2 triệu người, trong đó tập trung vào khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước (khoảng là 6,7 triệu người) [24].
Như vậy, so sánh trên cho thấy dù kém hơn doanh nghiệp về môi trường thu hút lao động nhưng hộ kinh doanh vẫn đang giải quyết tốt các vấn đề nhạy cảm của xã hội. Tỷ lệ thất nghiệp trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng và hậu quả dẫn tới các hiện tượng tiêu cực như tội phạm, nghèo đói, bất 6n chính trị, chiến tranh.Cho nên vấn đề tạo thêm việc làm không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn ý nghĩa xã hội sâu sắc. Với sự phát triển về quy mô cũng như sỐ lượng, hộ kinh doanh đã tạo nên các điều kiện để các cá nhân có môi trường lao động góp phần cải thiện đời sống nhân dân, xóa đói giảm nghèo và thực hiện tôt các nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước ta đã đê ra. Hiện nay, khi tỷ lệ thất nghiệp ngày càng cao, các công việc ngày càng đòi hỏi lực lượng lao động có điều kiện, trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao thì hộ kinh doanh với hình thức kinh doanh nhỏ lẻ hàng năm tạo ra hàng vạn việc làm mới, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như giải quyết các nhu câu của thị trường lao động.
Hộ kinh doanh có khả năng sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, góp phan giải phóng sức lao động, thúc day sản xuất phát triển Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được khởi xướng từ Đại hội Đảng lần thứ VI là một trong những chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, nhằm mục đích giải phóng sức lao động, huy động mọi nguồn lực trong xã hội cho sự phát triển kinh tế. Những chủ trương đó đã được tiếp tục khăng định qua các kỳ Đại hội Đảng, được cụ thê hóa bằng văn bản pháp luật của Nhà nước, tạo nên môi trường kinh doanh thông thoáng, tạo điều kiện cho mọi người dân yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh. Nhờ đó mà khơi dậy được những tiềm lực trong dân cư, phát huy sự sáng tạo trong nhân dân, huy động ngày càng nhiều nguồn lực xã hội như tài nguyên, lao động, vốn dau tư.cho công cuộc đôi mới đât nước. Một trong những tiềm năng lớn của hộ kinh doanh là huy động nguồn von trong xã hội.
Bởi, hộ kinh doanh là mô hình hoạt động phù hop với tâm lý kinh doanh của người Việt Nam. Với số lượng lớn, phân bố trong nhiều lĩnh vực khác nhau, hộ kinh doanh tận dụng được nhiều nguồn von rải rác trong dân cư vào sản xuất, kinh doanh. Năm 2012, tài sản và nguồn vốn mà hộ kinh doanh hiện có chiếm khoảng 18% GDP. Sau khi thu hút vốn, các hộ đầu tư vào kinh doanh có lãi, lợi nhuận sẽ quay trở lại quá trình kinh doanh, trở thành động lực dé thúc day kinh tế phát triển.
Ngoài ra, hộ kinh doanh còn là cơ sở huy động nguồn nhân lực lớn cho phát triển kinh tế xã hội. Ở nông thôn, mô hình hộ kinh doanh thu hút một lượng lớn lao động nông nhàn muốn tăng thu nhập hoặc những người dân muốn chuyên đổi cơ cau kinh tế nông nghiệp sang thủ công nghiệp. Ở thành thị, các cơ sở kinh doanh cá thé trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, thủ công nghiệp tạo điều kiện giải quyết việc làm cho những người lao động chưa có việc làm. Đây không chi là việc giải quyết van dé xã hội mà hình thức kinh doanh này đã góp phần phát huy khả năng sáng tạo, tính năng động trong sản xuất kinh doanh của người lao động.
Trong thực tế, không ít các cá nhân kinh doanh đã trở thành điển hình cho những sáng kiến, phát minh, kinh nghiệm tạo ra những sản phẩm mới được xã hội công nhận, hay cải tiến phương pháp sản xuất, chế biến, tăng năng xuất lao động.đóng góp vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước. Chính những con người ấy là nguồn lực quan trọng, trong tương lại sẽ trở thành những ông chủ lớn, bứt phá khỏi quy mô nhỏ và trở thành những doanh nhân làm chủ cơ sở sản xuất quy mô lớn. Ngoài việc huy động lực lượng lớn người lao động nhàn rỗi, giải phóng sức lao động, hộ kinh doanh còn trực tiếp khai thác các nguồn lực khác như: đất đai, tài nguyên, công nghệ.góp phần vào việc sử dụng hiệu quả tư liệu sản xuât của nên kinh tê. Nhìn chung ở nước ta, doanh nghiệp tập trung và phân bố không đồng đều theo vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, nguồn vốn đầu tư.
Chính vì vậy, với lực lượng lớn, phát triển nhanh từ nông thôn đến thành thị, kinh doanh đơn giản, lĩnh vực hoạt động đa dạng và ứng phó tốt với thị trường biến động nên hộ kinh doanh tận dụng được các nguồn lực xã hội 1. Hộ kinh doanh góp phần gìn giữ những giá trị truyền thống, đặc thù của văn hóa làng nghề ở Việt Nam. Tính trên cả nước có khoảng 400 làng nghề truyền thống, có lich sử hàng trăm năm nay, thu hút hàng triệu gia đình và số lượng lao động lớn. Nhiều địa phương có những làng nghề truyền thống mà sự phát triển của nó trong hộ gia đình và dòng họ theo hình thức cha truyền con nối thông qua việc gìn giữ và phát huy các kinh nghiệm quý báu qua các thời kỳ lịch sử.
Ở mỗi vùng miền, địa phương, các điều kiện về địa lý tự nhiên — con người khác nhau nên các làng nghề có những sản phẩm đặc trưng, nổi tiếng về chất lượng kỹ thuật như: gốm Bát Tràng, chạm khắc gỗ Đồng Ky, chiếu cói Nga Sơn, chế tác đá mỹ nghệ Non Nước. Đi cùng với vấn đề bảo tồn bản sắc dân tộc và phát triển trong thời kỳ mới, các hộ kinh doanh đang không ngừng cải tiễn kỹ thuật, tăng năng xuất sản phẩm nhưng vẫn phù hợp với những giá trị truyền thống của cha ông dé lại. Không như các doanh nghiệp đòi hỏi số vốn lớn, chịu nhiều thủ tục hành chính và các loại thuế cũng như cơ cấu tổ chức và hoạt động phức tạp, đa số các hộ gia đình làng nghề đều có quy mô kinh doanh nhỏ (trong phạm vi hộ gia đình). Các thành viên trong hộ đều tham gia sản xuất, kinh doanh theo dựa vào năng lực, sở trường của mình nên việc lựa chọn mô hình hộ kinh doanh một mặt để giữ gìn những kinh nghiệm đặc sắc trong phạm vi gia đình, dòng họ đồng thời dễ thích ứng với thị trường như lúc mới đâu khai sinh ra nó.
10 Như vậy, cùng với doanh nghiệp, hộ kinh doanh là một trong những thành phan quan trọng trong việc phát triển kinh tế ngành nghé truyền thống của Việt Nam đã được tích lũy qua nhiều thế hệ.