mở đầu cho cuộc đại di cư lớn nhất trong lịch sử của người Hmông ở Đông Nam Á vào thế kỷ XX. Cũng từ đây, bắt đầu hình thành nên các cộng đồng người Hmông ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới. Cho đến nay, chưa có một cuộc điều tra chính thức nào về dân số người Hmông trên thế giới, do đó, những thông tin về dân số của người Hmông ở các nước chỉ là những con số dự đoán. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, hiện nay người Hmông có mặt ở 15 quốc gia trên thế giới.
Cuộc điều tra dân số năm 1990 của Trung Quốc cho thấy, 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tại đất nước có đông người Hmông nhất thế giới này có 7.622 người tự nhận là người Miao/Miêu [2] (chiếm 0,65% dân số toàn Trung Quốc lúc đó). Người Miao/Miêu chủ yếu cư trú ở phía Nam Trung Quốc: Vân Nam (895.704 người), Tứ Xuyên (533.860 người), Quý Châu (3.701 người), Hồ Nam (1.951 người), Quảng Tây (426.413 người), Hồ Bắc (200.764 người), Hải Nam (51.676 người), Quảng Đông (5.988 người) và 33.515 người ở các tỉnh khác. Theo dự đoán của Gary Lee và Nick Tapp (2002), tổng dân số của người Miao/Miêu ở Trung Quốc vào khoảng 9 triệu người. Ở Lào, theo điều tra dân số năm 1995, có 315.465 người Hmông, chiếm 9,6% dân số, họ được gọi là người Mẹo, một bộ tộc trong nhóm Lào Sủng, cư trú chủ yếu ở hầu khắp Bắc Lào, song tập trung đông nhất ở Xiêng Khoảng và Đặc khu Xay Xổm Bun.
Ở Thái Lan, theo số liệu thống kê của Vụ Phúc lợi công cộng Thái Lan, đến năm 1998, dân số người Hmông có 126.300 người, chiếm 0,21% dân số toàn quốc, phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc Thái Lan, tập trung đông nhất ở các tỉnh: Chiang Rai, Chiang Mai, Tak, Nan. Ở Việt Nam, theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Hmông có dân số 1.189 người, đứng thứ 8 trong bảng danh sách các dân tộc ở Việt Nam, cư trú tại 62 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Hmông cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang (231.464 người, chiếm 31,9% dân số toàn tỉnh và 21,7% tổng số người Hmông tại Việt Nam), Điện Biên (170.648 người, chiếm 34,8% dân số toàn tỉnh và 16,0% tổng số người Hmông tại Việt Nam), Sơn La (157.253 người, chiếm 14,6% dân số toàn tỉnh và 14,7% tổng số người Hmông tại Việt Nam), Lào Cai (146.147 người, chiếm 23,8% dân số toàn tỉnh và 13,7% tổng số người Hmông tại Việt Nam), Lai Châu (83.324 người), Yên Bái (81.921 người), Cao Bằng (51.373 người), Nghệ 2 Ở Trung Quốc, tuy không có số liệu riêng về người Hmông, nhưng trong số người Miao/Miêu ước tính có khoảng một nửa là người Hmông. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.760 người), Đăk Nông (21.952 người), Bắc Kạn (17.470 người), Tuyên Quang (16.974 người), Thanh Hóa (14.799 người) [2, tr.
Cũng theo dự đoán của Gary Lee Nick Tapp, ngoài khu vực châu Á, còn có khoảng 190.000 người Hmông định cư ở một số nước như: Mỹ (170.000 người), Pháp (15.000 người), Canada (1.200 người), Australia (1.600 người), Guyana thuộc Pháp (1.800 người), Argentina (250 người) và NewZealand (150 người )[66]. Theo thống kê của Trung tâm hành động nguồn lực Đông Nam Á, (SEARAC), đến năm 2000, người Hmông ở Mỹ có 186.310 người, chiếm 0,9% dân số toàn quốc, sống ở 50/51 bang. Người Hmông ở Mỹ thành lập nhiều hội nhóm, tổ chức xã hội, có tính chất tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau và để tăng cường mối quan hệ với thân nhân, dòng họ và cộng đồng người Hmông ở khu vực Đông Nam Á, nhất là người Hmông ở Lào và Việt Nam. Các sinh hoạt văn hóa dân tộc, các biến động trong cộng đồng người Hmông ở Mỹ đều được thông tin, trưng cầu ý kiến của giới trí thức và những người Hmông ở Lào, Việt Nam.
Quá trình di cư của người Hmông đến Việt Nam và phân bố dân cư Nhiều kết quả nghiên cứu của các nhà Hmông học trên thế giới và trong nước đều cho thấy, người Hmông ở Việt Nam có quan hệ tộc thuộc với cộng đồng người Hmông trong Miêu tộc (Miao zu) hiện đang sinh sống ở Trung Quốc. Theo ghi chép của các nhà sử học Trung Quốc, ngay từ thế kỷ IX, ở phần đất hiện nay thuộc các châu Hồng Hà và Văn Sơn (Vân Nam, Trung Quốc) đã có một bộ phận người Miêu, trong đó có người Hmông áp sát vùng biên giới Việt – Trung. Tuy nhiên, người Hmông có mặt ở Việt Nam từ khi nào và họ đến đây theo những con đường nào thì những căn cứ thư tịch hiện có còn chưa đủ sức thuyết phục. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo nghiên cứu của các nhà nhân học/dân tộc học trong nước cho thấy, người Hmông ở Việt Nam phần lớn đến từ các tỉnh Quý Châu, Quảng Tây, Vân Nam (Trung Quốc), một bộ phận người Hmông có mặt ở miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An di cư từ Lào sang.
Quá trình di cư của dân tộc này vào Việt Nam cũng được chia làm ba đợt chính[3]: - Đợt thiên di thứ nhất, diễn ra vào khoảng từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII, chủ yếu là người Hmông thuộc các dòng họ Lù và họ Giàng sinh sống ở tỉnh Quý Châu (Trung Quốc), do phản đối chính sách “cải thổ quy lưu” (xóa bỏ chế độ thổ quan, cắt cử lưu quan cai trị) không thành công đã phải bỏ xứ di cư đến huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, hậu duệ của nhóm này di cư đến Việt Nam tính đến những năm 60 của thế kỷ XX được 14 – 15 đời (khoảng 300 năm). - Đợt thiên di thứ hai, diễn ra vào những năm 1796-1820, chủ yếu là người Hmông đến từ tỉnh Quý Châu, một bộ phận đến từ Vân Nam, Quảng Tây do bị thất bại trong cuộc đấu tranh chống lại vua nhà Thanh. Lần này, người Hmông đến Việt Nam bằng hai đường: một đường của hơn 100 gia đình các dòng họ: Hoàng, Lý, Vương đến Đồng Văn, sau đó một bộ phận trong số này đến Hoàng Su Phì (Già Giang); một đường khác gồm 80 gia đình các dòng họ: Hoàng, Lục, Vù, Châu và Giàng đến tỉnh Lào Cai, về sau có 30 gia đình của các dòng họ Vù, Sùng, Giàng rời đến vùng Tây Bắc. - Đợt thiên di thứ ba, diễn ra sau khi cuộc khởi nghĩa Thái Bình thiên quốc thất bại.
Để tránh bị trả thù, một bộ phận khá lớn người Hmông tham gia cuộc khởi nghĩa này đã buộc phải rời bỏ quê hương đi về phương Nam, đến các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang của Việt Nam nhằm tránh sự truy bức của triều đình nhà Mãn Thanh. Do đó, có thể nói, đây là đợt thiên di lớn nhất 3 ThuvienPhamNgocThach, 26/01/2013 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong lịch sử di cư của người Hmông từ Nam Trung Quốc đến Bắc Việt Nam. Số lượng người di cư có thể lên tới trên 10 nghìn người. Phần lớn trong số họ là người Hmông đến từ tỉnh Quý Châu, có một số đến từ hai tỉnh Quảng Tây và Vân Nam.
Ngoài các đợt thiên di nói trên, thì sau đó cứ hàng năm vẫn có một số nhóm người Hmông di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam với số lượng nhỏ lẻ. Con đường di chuyển của người Hmông đến Việt Nam những lần này vẫn theo hướng cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang), từ đó xuống vùng Tuyên Quang. Ở Việt Nam, tốc độ tăng dân số bình quân của người Hmông thuộc loại cao so với các dân tộc khác. Theo kết quả tổng điều tra dân số lần thứ nhất năm 1979, dân số dân tộc Hmông là 411.074 người; đến đợt tổng điều tra dân số lần thứ hai năm 1989, dân số dân tộc Hmông là 558.
Như vậy, sau 10 năm dân số dân tộc Hmông tăng thêm 146.979 người, tỷ lệ tăng hằng năm là 3,2%. Đến đợt tổng điều tra dân số năm 1999, dân số dân tộc Hmông là 787.604 người, sau 10 năm tăng thêm 229.551 người, tỷ lệ tăng bình quân hằng năm là 3,4%. Theo tổng điều tra dân số năm 2009, dân số dân tộc Hmông lên tới 1.189 người, sau 10 năm tăng thêm 280.585 người, đứng thứ năm về số dân trong các dân tộc thiểu số (Tày: 1.392 người, Thái: 1.423 người, Mường: 1.963 người, Khmer: 1. Người Hmông là dân tộc có tỷ lệ phát triển dân số nhanh và có tốc độ di chuyển dân cư rất lớn.
Năm 1960, số xã có người Hmông cư trú là 398, năm 1979 là 677, năm 1989 là 802, năm 1999 khoảng trên 1. Hiện nay, ở Việt Nam người Hmông không chỉ cư trú ở các tỉnh phía Bắc mà đã di chuyển vào nhiều tỉnh phía Nam, nhiều nhất là các tỉnh Tây Nguyên (xem bảng 1.1 [26]) 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Nơi cư trú và dân số dân tộc Hmông năm 2009 Hmông Việt Nam Số xã Số bản/làng Chỉ có Chỉ có Địa phương Có người Có người Số hộ Số khẩu người người Hmông Hmông Hmông Hmông Hà Giang 38.773 Bảng trên cho thấy, trong bức tranh phân bố tộc người Hmông hiện nay, địa bàn cư trú của tộc người này chủ yếu vẫn là các tỉnh miền núi phía Bắc. Các nhân tố tác động đến di cư quốc tế của người Hmông ở Tây Bắc Việt Nam 1. Ở cấp độ quốc tế và khu vực 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như trên đã nêu, việc di cư của người Hmông có nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ chính sách của các triều đại phong kiến Trung Quốc, mà đặc biệt là chính sách thay đổi chế độ thổ quan sang lưu quan, việc người Hmông đến Việt Nam chủ yếu là để lánh nạn “bành trướng” Đại Hán.
Trong cuộc đại thiên di của người Hmông thế kỷ XX có nguyên nhân chiến tranh khu vực. Cuộc chiến tranh Đông Dương kết thúc (năm 1975), các quan chức, binh sĩ người Hmông ở Lào, đứng đầu là Vàng Pao đã di tản sang Thái Lan, để rồi từ đây, họ tiếp tục hành trình tìm vùng đất mới. Trong quá trình tồn tại, xây dựng và thích ứng với nơi định cư mới, họ tiếp tục có liên hệ với người Hmông ở Việt Nam nói chung, Tây Bắc Việt Nam nói riêng thúc đẩy các hoạt động, trong đó có hoạt động di cư. Nhìn từ góc độ quan hệ quốc tế, từ thời kỳ kết thúc Chiến tranh Đông Dương (1954) đến thời kỳ chấm dứt Chiến tranh Lạnh (1991), một số quốc gia Đông Nam Á đã giành được chính quyền (dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản: Việt Nam, Lào).
Tuy nhiên, các nước này sau đó cũng bị ảnh hưởng bởi sự chia rẽ/bất đồng trong mối quan hệ Trung - Xô.