Chương 1: Tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Người Ngái ở xã Tân Hoa, đời sống kinh tế và mạng lưới xã hội của người di cư. Chương 3: Việc làm, thu nhập và đời sống của người di cư. Chương 4: Tác động kinh tế - xã hội của di cư lao động xuyên biên giới.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nghiên cứu 1. Ngƣời Ngái ở Bắc Giang Trong các cuộc điều tra dân số chính thức, người Ngái ở Bắc Giang được hướng dẫn khai báo là người Hoa. Thực ra, khái niệm người Hoa tương đối mơ hồ vì nó không hoàn toàn là một thuật ngữ chỉ tộc danh.
Người Ngái ở Bắc Giang chấp nhận tên gọi Hoa bởi vì họ có nguồn gốc di cư từ Trung Quốc, nhưng không chấp nhận mình thuộc về tộc Hoa-Hán. Nhiều người dân khi được hỏi đều cho rằng họ có tên tự gọi là người Ngái, nói tiếng Ngái và tiếng Khách, khác với các phương ngữ Hán và không giống với tiếng Hán Quảng Đông. Trước năm 1979, người Ngái và các nhóm nói tiếng Ngái như Khách, Khách gia, Hắc Cá, Sín và Đản đều được xem là một bộ phận của dân tộc Hoa [12&13]. Năm 1979, người Ngái lần đầu tiên được tách ra khỏi dân tộc Hoa để trở thành một tộc người riêng, khác Hoa [44].
Có ý kiến cho rằng việc tách nhóm Ngái khỏi người Hán là chính sách phân hóa của Việt Nam để làm giảm cố kết của họ với các nhóm gốc Hán [68]. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng việc tách người Ngái khỏi dân tộc Hoa là có cơ sở khoa học và là một cách để chống lại chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc [14]. Kể từ khi người Ngái được công nhận là một tộc người riêng biệt đến nay vẫn chưa được giới dân tộc học và nhân học quan tâm đúng mức. Chính vì vậy các công trình nghiên cứu về người Ngái ở Việt Nam còn rất hạn chế.
Ngoài một vài nghiên cứu ít ỏi và sơ lược có nhắc đến các nhóm nói tiếng Ngái và Hắc cá/Khách gia [12] không thấy có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về người Ngái. Các công trình chuyên khảo mang tính học thuật vô cùng ít ỏi và mờ nhạt. Vài năm trở lại đây mới bắt đầu có một số nghiên cứu cũng như các bài báo viết về người Ngái đăng tải trên một số phương tiện truyền thông [7; 10; 11; 23] v. Tuy nhiên, các bài báo này chỉ nói tới bộ phận người Ngái ít ỏi ở tỉnh Thái Nguyên.
Hầu như chưa có nghiên cứu 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nào về người Ngái ở Bắc Giang. Gần đây, một vài sinh viên Khoa Nhân học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tiến hành khảo sát về người Ngái ở Thái Nguyên và Bắc Giang làm luận văn tốt nghiệp đại học [28;29]. Công trình nghiên cứu công phu đầu tiên trình bày những phát hiện mới, có tính hệ thống về người Ngái Việt Nam là của [15]. Báo cáo khoa học này trình bày tại Hội nghị Thông báo dân tộc học dựa trên khảo sát thực địa tại Quảng Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh, đã đưa đến kết luận rằng nhóm cư dân vẫn được kê khai là người Hoa ở Bắc Giang và Đồng Nai thực ra là người Ngái.
Họ thuộc về hai phân nhóm nói tiếng Ngái và tiếng Khách. Trong quá trình nghiên cứu thực địa tại Bắc Giang, chúng tôi đã được nghe người Ngái nói về lịch sử của các dòng họ, quá trình di cư của họ vào Việt Nam, và những vấn đề mà họ quan tâm trong cuộc sống hiện thời. Những người dân địa phương cho biết tổ tiên của họ đều có gố gác từ khu vực Đông Nam Trung Quốc, các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông và Quảng Tây. Do những biến động lịch sử và sức ép kinh tế - xã hội nơi quê nhà, đã di cư đến khu vực Phòng Thành (Quảng Tây, Trung Quốc) rồi từ đây di cư vào khu vực Móng Cái, Đầm Hà, Hà Cối thuộc tỉnh Hải Ninh (cũ), nay thuộc tỉnh Quảng Ninh.
Thời điểm các dòng họ di cư đến khu vực này tính đến nay đã 7-8 đời, tức khoảng hơn 100 năm. Từ đây, các gia đình dần dần di cư vào sâu hơn trong đất liền, lên các tỉnh Bắc Giang, Lạng Sơn, Thái Nguyên. Một bộ phận lớn người Ngái đã di cư vào Nam năm 1954 [15]. Ở hầu hết các làng người Ngái ở huyện Lục Ngạn mà tôi đã đến thăm, đều thấy có hiện tượng trong một làng thường có các dòng họ thuộc hai nhóm ngôn ngữ Ngái và Khách cùng chung sống.
Theo người dân ở đây, hai thứ tiếng này chỉ khác nhau chút ít trong phát âm và một số từ vựng, nhưng họ đều hiểu nhau. Cả hai nhóm này đều có chung một ký ức về lịch sử tụ cư ở Bắc Giang (4-7 đời) mặc dù có nghiên cứu nói rằng người nói tiếng Ngái dường như đã có lịch sử cư trú ở Việt Nam sớm hơn người nói tiếng Khách [15]. Ngoài những đặc điểm chung về ngôn ngữ, nguồn gốc lịch sử, các nhóm Ngái đã có quá trình chung sống lâu dài ở Việt Nam và họ mong muốn được xác định là người Ngái thay vì kê khai học là người Hoa. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng tộc danh Ngái để chỉ nhóm cư dân đang được nghiên cứu.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Di cƣ trong nƣớc Di cư lao động từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Các công trình về di cư nông thôn - đô thị hay di cư lao động chủ yếu tập trung vào nghiên cứu di cư trong nước. Cũng đã có một số nghiên cứu về vấn đề di cư ra nước ngoài của lao động Việt Nam.
Tuy nhiên số lượng các nghiên cứu về di cư quốc tế chưa nhiều. Trong phần tổng quan này, tôi tập trung vào một số nguồn tài liệu mang tính tổng quan về di cư trong nước cũng như di cư quốc tế đã công bố dưới dạng khảo luận khoa học, các bài đăng trên các tạp chí nghiên cứu. Một số bài biết đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng được lưu ý để hiểu rõ hơn quan điểm của công luận nhìn nhận tình hình di cư lao động như thế nào. Trong số các nghiên cứu về di cư trong nước, một báo cáo tổng quát do Veronique Marx và Katherine Fleischer thực hiện đã nêu lên một bức tranh chung về tình hình di cư trong nước.
Theo báo cáo này, hiện có khoảng 7,7% dân số cả nước đang tham gia vào các dòng di cư khác nhau và xu hướng chung là đang tăng lên nhanh chóng, trong đó tỷ lệ lao động nữ tăng lên đáng kể. Báo cáo đã chỉ ra bốn vấn đề đáng quan tâm khi nghiên cứu di cư nội địa: 1) Phần lớn di cư trong nước là di cư tự do theo ba hình thức ngắn hạn, mùa vụ và di cư lâu dài; 2) Người di cư luôn cảm thấy yếu thế hơn so với người sở tại. Họ cũng không được hưởng các trợ cấp xã hội dành cho người lao động nếu di cư tự do, và gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ xã hội; 3) Động cơ chính của di cư là vì mục đích kinh tế, trong đó bao gồm những người tìm việc làm tăng thêm thu nhập và nâng cao điều kiện sống và những người di cư theo gia đình; 4) Hầu hết số tiền kiếm được từ lao động di cư được chi dùng cho giáo dục và các chi phí chăm sóc sức khỏe. Điều này có nghĩa là di cư lao động, trong chừng mực nào đó có ý nghĩa tích cực vì nhờ đó giảm đi sự khác biệt giữa các khu vực thành thị và nông thôn và góp phần tạo việc làm và thu nhập cho hộ gia đình nghèo.
Báo cáo này chủ yếu phân tích di cư từ một viễn cảnh vĩ mô tình hình di cư trong nước hiện nay như dòng di cư, giới, công việc, thu nhập và tác động xã hội của di cư lao động. Tuy nhiên, báo cáo không đi sâu phân tích các sức ép dẫn đến di cư và mạng lưới xã hội của người di cư tự do. Một nhận định có tính phổ quát của hầu hết các nghiên cứu về dòng di cư nội địa đều có chung một 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhận định về mối liên hệ giữa di cư và tình trạng đói nghèo, xem di cư như một chiến lược giảm nghèo của các hộ gia đình nông dân [75]. Nghiên cứu của Lê Quốc Hội và Nguyễn Thị Hoài Thu đã chỉ ra mối quan hệ giữa di dân và quá trình giảm nghèo.
Theo các tác giả này thì di cư trong nước đã có tác động tích cực đến giảm nghèo mặc dù kết quả không phải tức thì nhưng ở các tỉnh có tỷ lệ kinh tế nông nghiệp cao thì tác động giảm nghèo của di cư rõ rệt hơn. Nghiên cứu không chỉ ra tác động của từng loại hình di cư cụ thể nhưng nói chung cho rằng di cư có tác động tích cực đến nền kinh tế nói chung và đến các hộ gia đình có người di cư nói riêng [30]. Năm 2004, nhà nghiên cứu Đặng Nguyên Anh, một chuyên gia hàng đầu về di cư nội địa ở Việt Nam đã cho xuất bản công trình “Di dân trong nước: Vận hội và thách thức đối với công cuộc đổi mới và phát triển ở Việt Nam”. Trong công trình này, ông đã phân tích các xu hướng và đặc điểm di dân, những vấn đề nổi bật của di dân trong nước và từ đó nêu ra các khuyến nghị về chính sách.
Tác giả đã làm rõ các khái niệm di dân và chỉ ra rằng các thành phố lớn trở thành tâm điểm của các cuộc di dân, người lao động di cư đến thành phố với mong muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, cũng giống như các phát hiện của các nhà nghiên cứu khác, Đặng Nguyên Anh cũng cho rằng hệ quả của các cuộc di dân nông thôn đô thị là các đối tượng ít được bảo vệ, khó tiếp xúc với các dịch vụ xã hội và đặc biệt phụ nữ là đối tượng phải chịu nhiều thiệt thòi, dễ bị xâm hại tình dục và bạo lực trong quá trình di cư [3].