Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU VÀ NĂNG LỰC THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU 1. Tổng quan về chuỗi giá trị toàn cầu 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò và tiêu chí phân loại chuỗi giá trị toàn cầu 1. Các khái niệm Trước hết, về chuỗi giá trị: Năm 1985, trong cuốn sách Lợi thế cạnh tranh: Tạo lập và duy trì hiệu quả, được coi là một trong tác phẩm kinh điển của mình, giáo sư của đại học Harvard Michael Porter đã đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và quốc gia và ông chỉ ra rằng, chuỗi giá trị chính là công cụ quan trọng của doanh nghiệp để tạo ra giá trị lớn hơn dành cho khách hàng.
Theo Porter, “chuỗi giá trị gồm toàn bộ các hoạt động gia tăng giá trị bắt đầu từ khâu cung cấp nguyên vật liệu đến sản xuất, chế biến, lưu kho hàng hóa, marketing và cung cấp dịch vụ hậu mãi”[14]. Về thực chất đây là một tập hợp các hoạt động nhằm thiết kế, sản xuất, bán hàng, giao hàng và hỗ trợ sản phẩm của doanh nghiệp. Chuỗi giá trị bao gồm 9 hoạt động tương ứng về chiến lược tạo ra giá trị dành cho khách hàng, trong đó có 5 hoạt động chính và 4 hoạt động bổ trợ. Thứ nhất, nhóm các hoạt động chính là những hoạt động mang tính chất liên quan đến việc tạo ra sản phẩm, bán và chuyển giao cho khách hàng cũng như dịch vụ hỗ trợ sau bán hàng, bao gồm dãy 05 loại hoạt động tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm: Một là, logistics đầu vào: Gồm các hoạt động liên quan đến tiếp nhận, lưu giữ, phân phối tất cả các nguồn lực đầu vào của sản phẩm phục vụ cho quá trình sản xuất như: quản lý nguyên vật liệu, lưu kho, điều vận, thanh toán với nhà cung ứng….
9 Hai là, vận hành - sản xuất kinh doanh: Là tất cả các hoạt động nhằm chuyển hóa nguyên vật liệu, nguồn lực đầu vào thành sản phẩm đầu ra. Ba là, vận chuyển ra bên ngoài:Gồm tất cả các hoạt động như thu gom, lưu giữ và vận chuyển sản phẩm hoàn chỉnh đến tận tay người tiêu dùng. Bốn là, marketing và bán hàng: Bao gồm tất cả các hoạt động nhằm đảm bảo cho việc trao đổi hàng hóa sản phẩm trên thị trường được thực hiện một cách tốt nhất. Năm là, cung cấp các dịch vụ liên quan: Bao gồm tất cả các hoạt động liên quan nhằm thúc đẩy khả năng tiêu thụ sản phẩm, gia tăng giá trị của sản phẩm sau khi đến tay người tiêu dùng như: lắp đặt, bảo hành, bảo dưỡng, sửa chữa, tư vấn… theo yêu cầu của khách hàng.
Thứ hai, nhóm hoạt động bổ trợ gồm các hoạt động: Một là, khả năng đảm bảo về nguyên liệu và kĩ thuật: Là những hoạt động gồm những công đoạn thu mua các yếu tố đầu vào của sản xuất. Hai là, trình độ phát triển của công nghệ sản xuất: Công nghệ sản xuất là bí quyết, phương pháp để sản xuất ra sản phẩm sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh của hãng và sẽ được nâng cao hơn nếu chi phí hoạt động thấp và tạo ra được nhiều sản phẩm thay thế, đáp ứng nhu cầu thị trường. Ba là, khả năng quản trị nguồn nhân lực: Gồm những hoạt động liên quan đến tuyển dụng, chính sách tiền lương, thuê mướn nhân công, đào tạo, thực hiện các chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đồng thời có chính sách hỗ trợ vật chất và tinh thần khuyến khích lao động sáng tạo. Bốn là, điều kiện cơ sở hạ tầng: Bao gồm các hoạt động như quản lý chung, hoạch định chiến lược, quản trị tài chính, kế toán, pháp luật, cơ cấu tổ chức, hệ thống kiểm soát, văn hóa công ty…Hoạt động của cơ sở hạ tầng ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả nhóm hoạt động khác trong chuỗi giá trị.
Quan niệm về chuỗi giá trị toàn cầu lần đầu được các tác giả Gereffi và Korzeniewicz (1994); Kaplinsky (1999) sử dụng khung phân tích chuỗi giá 10 trị của M. Porter để xác định cách thức các tập đoàn và các quốc gia hội nhập thành công vào kinh tế thế giới, đồng thời dựa vào đó để đánh giá các yếu tố quyết định giá trị phân phối toàn cầu. Trong bài viết “Sổ tay nghiên cứu chuỗi giá trị” (2001), Kaplinsky và Morris, đã đưa ra định nghĩa: “Chuỗi giá trị toàn cầu là một dây chuyền sản xuất kinh doanh theo phương thức toàn cầu hóa, trong đó có nhiều nước tham gia, chủ yếu là các doanh nghiệp tham gia vào các công đoạn khác nhau, từ thiết kế, chế tạo, tiếp thị đến phân phối và hỗ trợ tiêu dùng” [21]. Với việc quan sát và và nghiên cứu số liệu thực tế đã chứng minh được rằng quá trình toàn cầu hóa đã khiến khoảng cách thu nhập giữa các nước ngày càng gia tăng.
Những nhà nghiên cứu chứng minh điều này bằng cách thiết lập và so sánh chuỗi giá trị toàn cầu. Họ đã phân tích thu nhập hay chính là giá trị mà chủ thể tham gia vào chuỗi có thể tạo nên, từ đó so sánh để thấy sự chênh lệch về giá trị được tạo ra trong những công đoạn khác nhau trong chuỗi, theo những khu vực địa lý khác nhau Toàn cầu hóa tác động đến mọi mặt của đời sống, nhưng có thể nhìn thấy rõ nét nhất trên lĩnh vực kinh tế, Trong dòng chảy của hội nhập và toàn cầu hóa đang diễn ra ngày một sâu hơn, rộng hơn, đa dạng hơn, hệ thống giá trị xâu chuỗi các mắt xích đã vượt ra ngoài biên giới và lãnh thổ quốc gia được xác lập, đó chính là chuỗi giá trị toàn cầu. Theo cách tiếp cận đó, có thể hiểu chuỗi giá trị toàn cầu là một chuỗi sản xuất – kinh doanh trong môi trường toàn cầu hóa, trong đó, các chủ thể kinh tế trên toàn thế giới tham gia vào các công đoạn khác nhau trong một chuỗi thống nhất xuyên suốt từ thị trường cung ứng đến thị trường tiêu thụ toàn cầu với mục đích tạo được giá trị hiệu quả nhất cho người tiêu dùng trong đó các mắt xích mang tính tổng quát cao, phù hợp với đại đa số các chuỗi cung ứng theo ngành bao gồm: nghiên cứu phát triển; thiết kế; sản xuất; phân phối; tiêu thụ. 11 Chuỗi giá trị toàn cầu nhấn mạnh đến yếu tố toàn cầu của một chuỗi giá trị giản đơn.
Yếu tố toàn cầu được thể hiện ở chỗ các hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra ở nhiều nước khác nhau, hoặc nhiều khu vực địa lý khác nhau. Đặc điểm của chuỗi giá trị toàn cầu Thứ nhất, chuỗi giá trị toàn cầu là sự tích hợp các cấu phần sản xuất ở nhiều quốc gia. Toàn cầu hóa đã có tác động lan tỏa đến các hoạt động kinh tế và đưa đến sự hợp nhất các hoạt động được phân tán ở nhiều nước trên thế giới. Và đó là đặc điểm chung nhất của các chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ hai, chuỗi giá trị toàn cầu là sự liên kết cơ bản theo mô hình liên kết conglomerate, liên kết mạng. Liên kết này bao gồm từ các hoạt động sản xuất thượng đến các hoạt động sản xuất hạ nguồn cho tới khi hoàn thành một chu kì sống của một sản phẩm cụ thể. Trong liên kết này, tùy theo tính chất phức tạp, chủ yếu về mặt công nghệ khi sản xuất một sản phẩm, chuỗi có thể tích hợp các liên kết trong từng cấu phần sản xuất nhằm tận dụng các lợi thế chuyên ngành cuả các công ty trên phạm vi toàn cầu. Sự liên kết này sẽ đưa đến mạng sản xuất toàn cầu.1: Mô hình mạng sản xuất liên kết Conglomerate 12 Thứ ba, chuỗi giá trị toàn cầu gắn liền với mục tiêu giảm chi phí và nâng cao hiệu quả Khi các tập đoàn quyết định chia nhỏ các phân đoạn sản xuất của họ và chuyển giao những phân đoạn có giá trị gia tăng thấp sang những quốc gia, vùng lãnh thổ có lợi thế so sánh cao hơn để giảm chi phí.
Hoạt động này có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức như: thuê nước ngoài gia công, liên doanh nước ngoài, hoặc đầu tư 100% vốn ở nước ngoài. Vai trò của chuỗi giá trị toàn cầu Khi quan sát sự phát triển của chuỗi giá trị toàn cầu, có thể thấy, sự phát triển của nó gắn liền với các hoạt động đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia. Hoạt động này đã tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ trong hệ thống sản xuất toàn cầu. Những quốc gia chậm phát triển hơn đã nhanh chóng tiếp cận và làm chủ được nhiều lĩnh vực sản xuất công nghiệp phức tạp vốn chỉ là sự độc quyền của phương Tây.
Quá trình tìm kiếm những địa điểm sản xuất thuận lợi đã tạo ra những dòng đầu tư và sản xuất đa chiều trên khắp thế giới. Vai trò của chuỗi giá trị toàn cầu đối với hệ thống sản xuất thể hiện: Thứ nhất, đẩy mạnh và làm sâu sắc quá trình phân công lao động quốc tế. Ngày nay, một quốc gia rất khó phát triển nếu đứng ngoài quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có sự phân công lao động quốc tế, chuyên môn hóa toàn cầu. Tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng chính là quá trình tham gia phân công lao động quốc tế, quá trình đó là quá trình chọn lọc và đào thải mạnh mẽ.
Bởi vậy, những tập đoàn lớn với sức mạnh kinh tế chỉ chớp lấy những lợi thế ở những khâu tạo ra giá trị gia tăng cao và chuyển những khâu tạo ra giá trị gia tăng thấp, gây ô nhiễm, tốn lao động, ít lãi sang những quốc gia đông dân đang phát triển. Quá trình này hiện nay vẫn tiếp tục một cách mạnh mẽ với việc các phân đoạn sản xuất ngày càng được chia nhỏ hơn. Chính quá trình chia nhỏ các công đoạn sản xuất, chuyển giao chúng cho các nhà sản xuất địa phương của các tập đoàn đa quốc gia trên nền tảng của các xu hướng toàn cầu hóa về 13 kinh tế đã tạo ra các chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời, quá trình này là quá trình phân công lao động và tham gia phân công lao động trên quy mô toàn cầu với mức độ ngày càng sâu sắc hơn. Thứ hai, chuỗi giá trị toàn cầu giúp chi phí sản xuất liên tục được cắt giảm.
Phân bổ nguồn lực hợp lý để có thể tận dụng tối đa, hiệu quả các nguồn lực doanh nghiệp, tối thiểu hóa chi phí sản xuất cũng chính là điều kiện tiên quyết để thâm nhập vào thị trường toàn cầu, điều kiện để tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.