ĐẶT VẤN ĐỀ Hệ thực vật Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng nhưng các nghiên cứu còn tập trung vào mô tả định tính đa dạng sinh học mà ít sử dụng phương pháp định lượng. Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới, được công nhận là quốc gia ưu tiên cao nhất cho bảo tồn toàn cầu nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ. Theo Kế hoạch hành động đa dạng sinh học đã được chính phủ phê duyệt năm 1995 (Kế hoạch hành động bảo vệ đa dạng sinh học của Việt Nam, 2005), Việt Nam có khoảng 12.000 loài thực vật (có khoảng 7.000 loài đã được định tên), trong đó có trên 40% loài thuộc loại đặc hữu, không tìm thấy ở nơi nào khác. Tuy nhiên, do môi trường bị hủy hoại và nguồn tài nguyên sinh học đang bị khai thác không kiểm soát trong thời gian dài nên diện tích rừng nước ta giảm đi một cách nhanh chóng và theo đó mà đa dạng sinh học cũng bị suy thoái nghiêm trọng.
Sách đỏ Việt Nam 2007, được công bố vào ngày 26 tháng 6 năm 2008, theo số liệu này hiện nay tại Việt Nam có 882 loài (464 loại thực vật) đang bị đe dọa ngoài thiên nhiên, tăng 167 loài so với thời điểm năm 1992. Trong đó có 45 loài thực vật “rất nguy cấp” (trong số 196 loài thực vật đang “nguy cấp”). Rừng thực nghiệm của Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp được thành lập vào năm 2009 để phục vụ cho học tập và nghiên cứu của cán bộ nhân viên và học sinh sinh, viên của trường. Do mới thành lập nên tại đây chưa có nhiều đề tài nghiên cứu, có một số đề tài mới đang bắt đầu đi vào thực hiện.
Với nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú ở diện tích rộng lớn này, việc thực hiện các đề tài nghiên cứu là rất cần thiết để có những dữ liệu cụ thể và chính xác phục vụ cho học tập và những nghiên cứu sau này. Để các nghiên cứu sau có thể kế thừa dữ liệu thì việc điều tra dữ liệu ban đầu cần phải thực hiện thật chính xác và đề tài sử dụng phương pháp lập ô định vị cố định. Sử dụng phương pháp định lượng để đánh giá đa dạng thực vật thân gỗ nhằm đem lại kết quả chính xác hơn trong nghiên cứu thực vật thân gỗ và cung cấp dữ liệu cho công tác giảng dạy và học tập. download by : skknchat@gmail.com 2 Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu và đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu thực vật thân gỗ tại Rừng Thực nghiệm Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp" làm Luận văn thạc sĩ về chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường.
download by : skknchat@gmail.com 3 Chương 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Những nghiên cứu về đa dạng thực vật thân gỗ 2.1 Những nghiên cứu về đa dạng thực vật thân gỗ trên thế giới Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái). Sự đa dạng loài trên thế giới được thể hiện bằng tổng số loài có mặt trên toàn cầu trong nhóm đơn vị phân loại. Việc nghiên cứu các hệ thực vật và thảm thực vật trên thế giới đã được rất nhiều nhà khoa học thực hiện. Liên quan đến lĩnh vực này đề tài tham khảo một số công trình nghiên cứu sau: Bằng phương pháp mô tả định tính để nghiên cứu đa dạng sinh học, theo Udvardi (Walters và Hamilton, 1993), trên thế giới bao gồm nhiều chỉnh thể sinh vật.
Sự phân chia đó tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và các sinh vật sống trên đó. Mỗi chỉnh thể được xem là một hệ sinh thái lớn bao gồm nhiều hệ sinh thái nhỏ tập hợp lại. Các chỉnh thể trên thế giới bao gồm: 1. Rừng mưa nhiệt đới; 2.
Rừng mưa Á nhiệt đới – ôn đới; 3. Rừng lá kim ôn đới; 4. Rừng khô nhiệt đới; 5. Rừng lá rộng ôn đới; 6.
Thảm thực vật Địa Trung Hải; 7. Sa mạc và bán sa mạc ẩm; 8. Đầm rêu và sa mạc; 9. Sa mạc và bán sa mạc lạnh; 10.
Trảng cỏ và đồng cỏ nhiệt đới; 11. Đồng cỏ ôn đới; 12. Thảm thực vật rừng núi cao; 13.Thảm thực vật vùng đảo; 14. Thảm thực vật vùng hồ.
Robert và Jonathan (1994) đã nghiên cứu và hướng dẫn tính toán số lượng ô đo đếm đa dạng sinh học bằng phương pháp ngoại suy. Theo phương pháp này, diện tích ô đo đếm được xác định dựa vào số loài tích lũy qua các ô đo đếm. Nếu số loài không tăng lên thì số lượng ô đo đếm sẽ dừng lại và ngược lại nếu số loài còn tăng thì tiếp tục mở rộng số lượng ô đo đếm. Như vậy với phương pháp này, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu tiếp cận với phương pháp định lượng trong nghiên cứu đa download by : skknchat@gmail.com 4 dạng sinh học ở giai đoạn tính toán số lượng ô đo đếm.
Nhưng kết quả được rút ra bằng phương pháp này có độ chính xác không cao. Vai trò và giá trị của đa dạng sinh học là vô cùng to lớn và không gì thay thế được đối với sự tồn tại và phát triển của con người. Ngày nay, cùng với sự phát triển của trí tuệ, con người đã quan tâm nhiều hơn đến đa dạng sinh học, đã có nhiều cá nhân, tập thể, quốc gia, khu vực… dành thời gian, tâm huyết, tiền bạc để nhằm bảo tồn và duy trì tính đa dạng sinh học. Đặc biệt là các tổ chức của Liên hợp quốc và nhiều tổ chức phi chính phủ (NGO) suốt thời gian qua đã đầu tư về nhiều mặt cho sự nghiệp bảo tồn tính ĐDSH.
Vấn đề đặt ra là lựa chọn phương pháp nghiên cứu nào để giải quyết được yêu cầu nghiên cứu bằng phương pháp định lượng để đánh giá đa dạng sinh học cho kết quả chính xác. Heywood (1995) đã công bố công trình đánh giá đa dạng sinh học toàn cầu nghiên cứu về đặc điểm và sự phân bố của đa dạng sinh học, chức năng của các hệ sinh thái và loài đối với môi trường, giá trị kinh tế của đa dạng sinh học, đề xuất các phương pháp bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững. Nhưng công trình nghiên cứu này vẫn chưa sử dụng phương pháp định lượng. Clarke và Warwich (2001) đã sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu và phân tích thống kê để xác định những thay đổi về quần xã ven biển.
Tác giả đã đưa ra 17 chương trình bày cơ sở khoa học, lý luận hình thành phương pháp và phân tích đánh giá tính đa dạng sinh học bằng phần mềm PRIMER 5 (Plymouth Routine in Multivariate Ecological Research). Các chỉ số đa dạng được tính theo công thức và giải thích ý nghĩa của chúng trên cơ sở khoa học của việc xử lý định lượng số liệu thu thập để xác định đa dạng sinh học. Nghiên cứu này đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn các chỉ số đa dạng khi xử lý số liệu của đề tài nhằm đạt được kết quả mong muốn, cung cấp những hiểu biết thêm về phương pháp định lượng đa dạng sinh học. (2002) đã sử dụng phương pháp định lượng để nghiên cứu phục hồi rừng ngập mặn và đa dạng sinh học vùng cửa download by : skknchat@gmail.com 5 biển ở Ranong, Thái Lan.
Xử lý số liệu bằng phềm mềm phầm PRIMER 5 (Clarke và Warwick, 1994) để xác định các chỉ số đa dạng sinh học, sử dụng SIMPER (Similarity Percent) để mô tả sự đóng góp của các loài trong quần xã, tính ma trận tương đồng (Similarity matrices) trên cơ sở tương đồng của Bray – Curtis, vẽ sơ đồ nhánh Cluster và NMDS (Non Metric Multi – Dimensional Scaling) để mô tả mối quan hệ giữa các ô đo đếm sau khi thu thập số liệu trên thực địa với ô đo đếm là 100 m2. Phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh học này đã phân tích, đánh giá, so sánh đa dạng sinh học dựa trên các chỉ số, các biểu đồ cụ thể để đưa ra kết quả nên kết luận của nghiên cứu mang tính khoa học và tính chính xác cao. (2006) khi nghiên cứu các quần xã thực vật và đa dạng sinh học ở vùng Taburno - Camposauro đã nghiên cứu với diện tích vùng nghiên cứu 137,8 km2 và ở độ cao trên 1.300 m so với mực nước biển với ô nghiên cứu (1 km x 1 km) bằng việc điều tra thống kê các loài thực vật, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được các loài hiếm và mức độ hiếm. Căn cứ kết quả tính toán chỉ số hiếm IR để đánh giá mức độ hiếm của từng loài và quần xã thực vật trong khu vực nghiên cứu theo các thang bậc sau đây: Chỉ số IR biến động từ 0 - 100%.
Khi chỉ số IR từ 78,08% - 95% R (Rare species) loài hiếm, chỉ số IR từ 95 - 97% loài rất hiếm MR (Very rare species), chỉ số IR > 97% loài cực kỳ hiếm RR (Extremely rare species). Cuối cùng tác giả biểu thị độ đa dạng bằng biểu đồ. Với việc chỉ ra chỉ số hiếm và mức độ hiến bằng công thức tính toán, công trình nghiên cứu của Guarino C. (2006) góp phần khẳng định tính khoa học và chính xác của phương pháp định lượng trong nghiên cứu đa dạng sinh học.2 Những nghiên cứu về đa dạng thực vật thân gỗ ở Việt Nam Thái Văn Trừng (1978) nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam.
Trên quan điểm sinh thái phát sinh, tác giả đã phân chia thảm thực vật Việt Nam thành các kiểu, kiểu phụ, kiểu trái và thấp nhất các ưu hợp. Trong các yếu tố phát sinh thì khí hậu là yếu tố phát sinh ra kiểu thực vật và con người là yếu tố phát sinh của các kiểu phụ, kiểu trái và ưu hợp, địa lý, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, khu hệ thực vật. download by : skknchat@gmail.com 6 Công trình nghiên cứu của Nguyễn Tiến Bân (2003) đã thống kê và đi đến kết luận thực vật Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam có 8.050 chi trong đó lớp Hai lá mầm 1.590 chi và trên 6.300 loài và lớp Một lá mầm 460 chi với 2. Trương Quang Học và ctv (2008) đã nghiên cứu đa dạng sinh học khu vực Bắc Trường Sơn.
Các tác giả dùng phương pháp khảo sát theo tuyến.