Luận văn thạc sĩ: Xây dựng CSDL Thực vật thân gỗ tại ĐH Lâm nghiệp (Nguyễn Thị Hiếu)

Luận văn đề xuất xây dựng CSDL thực vật thân gỗ tại Rừng Thực nghiệm Cơ sở 2 Đại học Lâm nghiệp, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao hiệu quả nghiên cứu.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2011

80
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

2. Chương 2: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Những nghiên cứu về đa dạng thực vật thân gỗ

2.1.1. Những nghiên cứu về đa dạng thực vật thân gỗ trên thế giới

2.1.2. Những nghiên cứu về đa dạng thực vật thân gỗ ở Việt Nam

2.1.3. Những nghiên cứu ở Rừng Thực nghiệm của CS2 –trường ĐH Lâm Nghiệp

2.2. Những nghiên cứu về ô định vị theo dõi đa dạng sinh học

2.2.1. Những nghiên cứu về ô định vị trên thế giới

2.2.2. Những nghiên cứu về ô định vị ở Việt Nam

Tóm tắt

I. Giới thiệu CSDL Thực vật thân gỗ Rừng ĐH Lâm nghiệp

Hệ thực vật Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng, là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào mô tả định tính mà ít sử dụng phương pháp định lượng. Do môi trường bị hủy hoại và khai thác tài nguyên không kiểm soát, diện tích rừng giảm nhanh chóng, kéo theo suy thoái đa dạng sinh học. Sách đỏ Việt Nam 2007 ghi nhận 882 loài đang bị đe dọa ngoài thiên nhiên, trong đó có 45 loài thực vật "rất nguy cấp". Rừng Đại học Lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc phục vụ học tập và nghiên cứu. Việc xây dựng một cơ sở dữ liệu (CSDL) chính xác và chi tiết về thực vật thân gỗ là vô cùng cần thiết để hỗ trợ các nghiên cứu sau này và bảo tồn đa dạng sinh học. Đề tài "Nghiên cứu và đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu thực vật thân gỗ tại Rừng Thực nghiệm Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp" ra đời nhằm giải quyết vấn đề này. Theo Kế hoạch hành động đa dạng sinh học đã được chính phủ phê duyệt năm 1995, Việt Nam có khoảng 12.000 loài thực vật (có khoảng 7.000 loài đã được định tên), trong đó có trên 40% loài thuộc loại đặc hữu, không tìm thấy ở nơi nào khác. Để các nghiên cứu sau có thể kế thừa dữ liệu thì việc điều tra dữ liệu ban đầu cần phải thực hiện thật chính xác và đề tài sử dụng phương pháp lập ô định vị cố định. Sử dụng phương pháp định lượng để đánh giá đa dạng thực vật thân gỗ nhằm đem lại kết quả chính xác hơn trong nghiên cứu thực vật thân gỗ và cung cấp dữ liệu cho công tác giảng dạy và học tập.

1.1. Mục tiêu của CSDL Thực vật thân gỗ Rừng ĐH Lâm nghiệp

Mục tiêu tổng quát là cung cấp dữ liệu cơ bản về đa dạng thực vật thân gỗ của rừng thực nghiệm, làm cơ sở để theo dõi, giám sát và sử dụng bền vững tài nguyên thực vật. Mục tiêu cụ thể bao gồm xây dựng cơ sở dữ liệu ban đầu về thực vật thân gỗ tại Rừng Đại học Lâm nghiệp, tạo mô hình thực tập cho sinh viên. Đề xuất biện pháp sử dụng cơ sở dữ liệu để theo dõi, giám sát đa dạng thực vật thân gỗ trong khu vực nghiên cứu.

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu CSDL Thực vật thân gỗ

Đối tượng nghiên cứu là quần xã thực vật tại Tiểu khu 121 thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai, khu thực nghiệm của Đại học Lâm nghiệp. Phạm vi nghiên cứu giới hạn tại trạng thái rừng III A - 2 ở Rừng Thực nghiệm Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp. Nội dung nghiên cứu bao gồm: định lượng đa dạng thực vật thân gỗ, định vị ô nghiên cứu và các loài cây quý hiếm, nghiên cứu cấu trúc rừng, và đề xuất biện pháp sử dụng, xây dựng CSDL phục vụ truy cập, quản lý, theo dõi đa dạng sinh học cây thân gỗ bằng phần mềm BioMon.

II. Thách thức Bảo tồn Đa dạng sinh học Thực vật thân gỗ

Bảo tồn đa dạng sinh học được xem là việc bảo vệ môi trường sống quan trọng nhất trên toàn cầu. Việc thiết lập ô định vị có ý nghĩa trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu để theo dõi, giám sát tài nguyên rừng. Đồng thời cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc đề xuất các biện pháp bảo tồn nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rừng cho các vườn quốc gia, các khu bảo tồn trên cả nước. Rừng Việt Nam đã được quản lý hơn 40 năm nay nhưng những hiểu biết về cấu trúc rừng vẫn còn rất hạn chế do thiếu các cơ sở dữ liệu được thu thập từ hệ thống ô tiêu chuẩn định vị. Các nghiên cứu dựa trên hệ thống ô tiêu chuẩn tạm thời và mô tả các đặc điểm của cây không có khả năng cung cấp các số liệu đáng tin cậy cho nghiên cứu đa dạng sinh học cũng như nghiên cứu các động thái của các hệ sinh thái rừng. Việc áp dụng phương pháp phân tích định lượng trong điề u tra, đánh giá đa dạng sinh học ở Viê ̣t Nam là thực sự cần thiết và có ý nghiã to lớn cả về mă ̣t phương pháp luâ ̣n cũng như thực tiễn.

2.1. Tình hình Nghiên cứu CSDL Thực vật thân gỗ trên Thế giới

Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống. Trên thế giới, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về hệ thực vật và thảm thực vật. Udvardi (Walters và Hamilton, 1993) chia thế giới thành nhiều chỉnh thể sinh vật dựa trên khí hậu và sinh vật sống. Robert và Jonathan (1994) nghiên cứu tính toán số lượng ô đo đếm đa dạng sinh học bằng phương pháp ngoại suy, bắt đầu tiếp cận phương pháp định lượng. Tuy nhiên, kết quả có độ chính xác không cao. Heywood (1995) công bố công trình đánh giá đa dạng sinh học toàn cầu, đề xuất các phương pháp bảo tồn và phát triển bền vững, nhưng chưa sử dụng phương pháp định lượng.

2.2. Nghiên cứu CSDL Thực vật thân gỗ tại Việt Nam Thực trạng và Hướng đi

Thái Văn Trừng (1978) nghiên cứu thảm thực vật Việt Nam trên quan điểm sinh thái phát sinh. Nguyễn Tiến Bân (2003) thống kê thực vật Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam. Trương Quang Học và ctv (2008) nghiên cứu đa dạng sinh học khu vực Bắc Trường Sơn, ứng dụng GPS nhưng đánh giá bằng phương pháp thống kê loài truyền thống. Lê Quốc Huy (2002) trình bày phương pháp nghiên cứu định lượng các chỉ số đa dạng sinh học thực vật. Viên Ngọc Nam và ctv (2008) nghiên cứu đa dạng sinh học thực vật tại Khu Bảo tồn thiên nhiên RNM Cần Giờ, sử dụng phần mềm PRIMER 5 để phân tích các chỉ số đa dạng sinh học.

III. Phương pháp Xây dựng CSDL Thực vật thân gỗ Rừng ĐH LN

Để xây dựng một cơ sở dữ liệu hiệu quả, đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp. Phương pháp kế thừa tài liệu giúp tổng hợp các thông tin đã có về đa dạng sinh học. Phương pháp điều tra, đo đếm ngoài hiện trường cung cấp dữ liệu thực tế về thực vật thân gỗ. Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp được sử dụng để xử lý và đánh giá thông tin thu thập. Dữ liệu sau đó được quản lý và phân tích bằng phần mềm BioMon, GIS và các công cụ thống kê.

3.1. Thu thập và xử lý dữ liệu CSDL Thực vật thân gỗ

Thu thập thông tin liên quan đến đa dạng sinh học, ô định vị, bản đồ địa hình, bản đồ hành chính, bản đồ hiện trạng rừng, điều kiện khí hậu. Sử dụng bản đồ, máy định vị GPS, ảnh Google Earth để xác định ô định vị tại Rừng Thực nghiệm. Đo độ cao, áp dụng phương pháp lập ô định vị của Francico Dameier (1992). Trong ô định vị 1 ha, chia thành 25 ô đo đếm 400 m2. Đo đường kính, chiều cao, xác định thành phần loài. Chụp hình các loài cây để làm tiêu bản ảnh.

3.2. Phân tích và Đánh giá CSDL Thực vật thân gỗ Rừng ĐH Lâm nghiệp

Xác định vị trí ô đo đếm, các loài thực vật thân gỗ quý hiếm lên bản đồ số thông qua phần mềm MapSource và Google Earth. Tổng hợp và xử lý số liệu bằng Excel và BioMon. Xây dựng bản đồ vị trí ô định vị và các loài thực vật quý hiếm. Tính các chỉ số đa dạng sinh học: chỉ số giá trị quan trọng (IV), chỉ số hiếm (IR), chỉ số phong phú loài Margalef, chỉ số đa dạng loài Shannon – Weiner, chỉ số đồng đều Pielou, chỉ số ưu thế Simpson.

IV. Kết quả Phân tích Đa dạng Thực vật thân gỗ tại Rừng ĐH Lâm nghiệp

Trong 25 ô đo đếm, đã thống kê 1.291 cá thể, thuộc 49 loài thực vật, 32 họ. Trong đó, có 4 loài trong Sách đỏ Việt Nam (2007): Lòng mức, Cẩm lai, Gõ đỏ, Gõ mật, thuộc mức độ nguy cấp (EN). 3 loài thuộc nhóm IIA Nghị định số 32/2006/NĐ-CP: Cẩm lai, Gõ đỏ, Gõ mật. Việc xác định thành phần loài và phân tích đa dạng sinh học cung cấp thông tin quan trọng cho công tác bảo tồn và quản lý tài nguyên.

4.1. Phân tích Thành phần Loài và Họ Thực vật thân gỗ

Kết quả cho thấy có 32 họ. Họ có nhiều loài nhất là họ Dầu (Dipterocapaceae) gồm 7 loài. Có 4 họ có 3 loài: Na, Thị, Bứa, Cà phê. 3 họ có 2 loài: Vang, Sim. Còn lại 24 họ có 1 loài duy nhất. Họ có số lượng cá thể nhiều nhất là họ Dầu (452 cá thể). Trung bình có 1,53 loài/họ và 40,37 cá thể/họ.

4.2. Phân bố và Chỉ số Đa dạng của các loài Thực vật thân gỗ

Trong 49 loài, 15 loài tập trung theo đám (30,61%), 34 loài phân bố ngẫu nhiên (69,49%). Chỉ số giàu của loài tăng dần theo số ô điều tra. Từ ô thứ 8 đến ô thứ 25 số loài vẫn tiếp tục tăng chậm và có xu thế ổn định. Số loài trong khu vực nghiên cứu trung bình là 15,56 ± 3,041.

4.3. Các Chỉ số Đa dạng sinh học Thực vật thân gỗ

Chỉ số giá trị quan trọng (IV): Loài có diện tích tiết diện tương đối (RBA) cao nhất là Cám (10,4%). Về tần suất xuất hiện tương đối (RF), loài có tần suất xuất hiện cao là Chiếc tam lang và Chò chai (6,48 %). Loài có mật độ tương đối (RD) cao nhất là Chò chai (20,36 %). Chỉ số IV của 22 loài chiếm 77,98 % (các loài ưu thế). Chỉ số phong phú loài Margalef (d) trong khu vực nghiên cứu trung bình là 28,04 ± 0,08. Chỉ số đa dạng loài Shannon - Weiner (H’lg) có giá trị trung bình là 1,024 ± 0,04.

V. Ứng dụng CSDL Thực vật thân gỗ cho Quản lý Rừng Bền vững

Thông tin từ cơ sở dữ liệu có thể được sử dụng để theo dõi sự thay đổi của quần thể thực vật, đánh giá hiệu quả của các biện pháp bảo tồn và quản lý rừng. CSDL cũng có thể hỗ trợ các chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đa dạng sinh học. Quan trọng nhất, nó cung cấp cơ sở khoa học để đưa ra các quyết định quản lý dựa trên bằng chứng, đảm bảo tính bền vững của hệ sinh thái rừng.

5.1. Sử dụng BioMon để quản lý và theo dõi CSDL

Việc sử dụng BioMon giúp lưu trữ dữ liệu một cách có hệ thống, dễ dàng truy cập và phân tích. BioMon cho phép tạo bản đồ phân bố của các loài, giúp các nhà quản lý rừng dễ dàng xác định các khu vực có giá trị bảo tồn cao và các khu vực cần can thiệp.

5.2. Ứng dụng CSDL trong nghiên cứu và giáo dục Lâm nghiệp

CSDL cung cấp nguồn tài liệu phong phú cho các nghiên cứu về đa dạng sinh học, sinh thái học và quản lý rừng. Sinh viên và nhà nghiên cứu có thể sử dụng CSDL để tìm hiểu về các loài thực vật thân gỗ, phân tích cấu trúc rừng và đánh giá tác động của các hoạt động con người lên hệ sinh thái rừng.

VI. Kết luận Hướng phát triển CSDL Thực vật thân gỗ Rừng ĐH LN

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu thực vật thân gỗ tại Rừng Đại học Lâm nghiệp là một bước quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý tài nguyên rừng bền vững. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học cho các hoạt động quản lý và bảo tồn, đồng thời mở ra các cơ hội cho nghiên cứu và giáo dục. Để CSDL phát huy tối đa hiệu quả, cần tiếp tục cập nhật thông tin, mở rộng phạm vi nghiên cứu và tăng cường hợp tác giữa các nhà khoa học, nhà quản lý và cộng đồng địa phương.

6.1. Cập nhật và mở rộng phạm vi CSDL Thực vật thân gỗ

Để duy trì tính hữu ích của CSDL, cần liên tục cập nhật thông tin về thành phần loài, phân bố và các đặc điểm sinh thái của thực vật thân gỗ. Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các khu vực khác trong Rừng Đại học Lâm nghiệp và các kiểu rừng khác nhau sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về đa dạng sinh học của khu vực.

6.2. Tăng cường hợp tác và chia sẻ CSDL Thực vật thân gỗ

Việc hợp tác với các tổ chức nghiên cứu, các trường đại học và cộng đồng địa phương sẽ giúp tăng cường tính chính xác và độ tin cậy của CSDL. Chia sẻ CSDL với cộng đồng sẽ nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đa dạng sinh học và khuyến khích sự tham gia của mọi người vào công tác bảo tồn.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hệ thực vật Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng nhưng các nghiên cứu còn tập trung vào mô tả định tính đa dạng sinh học mà ít sử dụng phương pháp định lượng. Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới, được công nhận là quốc gia ưu tiên cao nhất cho bảo tồn toàn cầu nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ. Theo Kế hoạch hành động đa dạng sinh học đã được chính phủ phê duyệt năm 1995 (Kế hoạch hành động bảo vệ đa dạng sinh học của Việt Nam, 2005), Việt Nam có khoảng 12.000 loài thực vật (có khoảng 7.000 loài đã được định tên), trong đó có trên 40% loài thuộc loại đặc hữu, không tìm thấy ở nơi nào khác. Tuy nhiên, do môi trường bị hủy hoại và nguồn tài nguyên sinh học đang bị khai thác không kiểm soát trong thời gian dài nên diện tích rừng nước ta giảm đi một cách nhanh chóng và theo đó mà đa dạng sinh học cũng bị suy thoái nghiêm trọng.

Sách đỏ Việt Nam 2007, được công bố vào ngày 26 tháng 6 năm 2008, theo số liệu này hiện nay tại Việt Nam có 882 loài (464 loại thực vật) đang bị đe dọa ngoài thiên nhiên, tăng 167 loài so với thời điểm năm 1992. Trong đó có 45 loài thực vật “rất nguy cấp” (trong số 196 loài thực vật đang “nguy cấp”). Rừng thực nghiệm của Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp được thành lập vào năm 2009 để phục vụ cho học tập và nghiên cứu của cán bộ nhân viên và học sinh sinh, viên của trường. Do mới thành lập nên tại đây chưa có nhiều đề tài nghiên cứu, có một số đề tài mới đang bắt đầu đi vào thực hiện.

Với nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú ở diện tích rộng lớn này, việc thực hiện các đề tài nghiên cứu là rất cần thiết để có những dữ liệu cụ thể và chính xác phục vụ cho học tập và những nghiên cứu sau này. Để các nghiên cứu sau có thể kế thừa dữ liệu thì việc điều tra dữ liệu ban đầu cần phải thực hiện thật chính xác và đề tài sử dụng phương pháp lập ô định vị cố định. Sử dụng phương pháp định lượng để đánh giá đa dạng thực vật thân gỗ nhằm đem lại kết quả chính xác hơn trong nghiên cứu thực vật thân gỗ và cung cấp dữ liệu cho công tác giảng dạy và học tập. download by : skknchat@gmail.com 2 Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu và đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu thực vật thân gỗ tại Rừng Thực nghiệm Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp" làm Luận văn thạc sĩ về chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường.

download by : skknchat@gmail.com 3 Chương 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Những nghiên cứu về đa dạng thực vật thân gỗ 2.1 Những nghiên cứu về đa dạng thực vật thân gỗ trên thế giới Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái). Sự đa dạng loài trên thế giới được thể hiện bằng tổng số loài có mặt trên toàn cầu trong nhóm đơn vị phân loại. Việc nghiên cứu các hệ thực vật và thảm thực vật trên thế giới đã được rất nhiều nhà khoa học thực hiện. Liên quan đến lĩnh vực này đề tài tham khảo một số công trình nghiên cứu sau: Bằng phương pháp mô tả định tính để nghiên cứu đa dạng sinh học, theo Udvardi (Walters và Hamilton, 1993), trên thế giới bao gồm nhiều chỉnh thể sinh vật.

Sự phân chia đó tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và các sinh vật sống trên đó. Mỗi chỉnh thể được xem là một hệ sinh thái lớn bao gồm nhiều hệ sinh thái nhỏ tập hợp lại. Các chỉnh thể trên thế giới bao gồm: 1. Rừng mưa nhiệt đới; 2.

Rừng mưa Á nhiệt đới – ôn đới; 3. Rừng lá kim ôn đới; 4. Rừng khô nhiệt đới; 5. Rừng lá rộng ôn đới; 6.

Thảm thực vật Địa Trung Hải; 7. Sa mạc và bán sa mạc ẩm; 8. Đầm rêu và sa mạc; 9. Sa mạc và bán sa mạc lạnh; 10.

Trảng cỏ và đồng cỏ nhiệt đới; 11. Đồng cỏ ôn đới; 12. Thảm thực vật rừng núi cao; 13.Thảm thực vật vùng đảo; 14. Thảm thực vật vùng hồ.

Robert và Jonathan (1994) đã nghiên cứu và hướng dẫn tính toán số lượng ô đo đếm đa dạng sinh học bằng phương pháp ngoại suy. Theo phương pháp này, diện tích ô đo đếm được xác định dựa vào số loài tích lũy qua các ô đo đếm. Nếu số loài không tăng lên thì số lượng ô đo đếm sẽ dừng lại và ngược lại nếu số loài còn tăng thì tiếp tục mở rộng số lượng ô đo đếm. Như vậy với phương pháp này, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu tiếp cận với phương pháp định lượng trong nghiên cứu đa download by : skknchat@gmail.com 4 dạng sinh học ở giai đoạn tính toán số lượng ô đo đếm.

Nhưng kết quả được rút ra bằng phương pháp này có độ chính xác không cao. Vai trò và giá trị của đa dạng sinh học là vô cùng to lớn và không gì thay thế được đối với sự tồn tại và phát triển của con người. Ngày nay, cùng với sự phát triển của trí tuệ, con người đã quan tâm nhiều hơn đến đa dạng sinh học, đã có nhiều cá nhân, tập thể, quốc gia, khu vực… dành thời gian, tâm huyết, tiền bạc để nhằm bảo tồn và duy trì tính đa dạng sinh học. Đặc biệt là các tổ chức của Liên hợp quốc và nhiều tổ chức phi chính phủ (NGO) suốt thời gian qua đã đầu tư về nhiều mặt cho sự nghiệp bảo tồn tính ĐDSH.

Vấn đề đặt ra là lựa chọn phương pháp nghiên cứu nào để giải quyết được yêu cầu nghiên cứu bằng phương pháp định lượng để đánh giá đa dạng sinh học cho kết quả chính xác. Heywood (1995) đã công bố công trình đánh giá đa dạng sinh học toàn cầu nghiên cứu về đặc điểm và sự phân bố của đa dạng sinh học, chức năng của các hệ sinh thái và loài đối với môi trường, giá trị kinh tế của đa dạng sinh học, đề xuất các phương pháp bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững. Nhưng công trình nghiên cứu này vẫn chưa sử dụng phương pháp định lượng. Clarke và Warwich (2001) đã sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu và phân tích thống kê để xác định những thay đổi về quần xã ven biển.

Tác giả đã đưa ra 17 chương trình bày cơ sở khoa học, lý luận hình thành phương pháp và phân tích đánh giá tính đa dạng sinh học bằng phần mềm PRIMER 5 (Plymouth Routine in Multivariate Ecological Research). Các chỉ số đa dạng được tính theo công thức và giải thích ý nghĩa của chúng trên cơ sở khoa học của việc xử lý định lượng số liệu thu thập để xác định đa dạng sinh học. Nghiên cứu này đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn các chỉ số đa dạng khi xử lý số liệu của đề tài nhằm đạt được kết quả mong muốn, cung cấp những hiểu biết thêm về phương pháp định lượng đa dạng sinh học. (2002) đã sử dụng phương pháp định lượng để nghiên cứu phục hồi rừng ngập mặn và đa dạng sinh học vùng cửa download by : skknchat@gmail.com 5 biển ở Ranong, Thái Lan.

Xử lý số liệu bằng phềm mềm phầm PRIMER 5 (Clarke và Warwick, 1994) để xác định các chỉ số đa dạng sinh học, sử dụng SIMPER (Similarity Percent) để mô tả sự đóng góp của các loài trong quần xã, tính ma trận tương đồng (Similarity matrices) trên cơ sở tương đồng của Bray – Curtis, vẽ sơ đồ nhánh Cluster và NMDS (Non Metric Multi – Dimensional Scaling) để mô tả mối quan hệ giữa các ô đo đếm sau khi thu thập số liệu trên thực địa với ô đo đếm là 100 m2. Phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh học này đã phân tích, đánh giá, so sánh đa dạng sinh học dựa trên các chỉ số, các biểu đồ cụ thể để đưa ra kết quả nên kết luận của nghiên cứu mang tính khoa học và tính chính xác cao. (2006) khi nghiên cứu các quần xã thực vật và đa dạng sinh học ở vùng Taburno - Camposauro đã nghiên cứu với diện tích vùng nghiên cứu 137,8 km2 và ở độ cao trên 1.300 m so với mực nước biển với ô nghiên cứu (1 km x 1 km) bằng việc điều tra thống kê các loài thực vật, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được các loài hiếm và mức độ hiếm. Căn cứ kết quả tính toán chỉ số hiếm IR để đánh giá mức độ hiếm của từng loài và quần xã thực vật trong khu vực nghiên cứu theo các thang bậc sau đây: Chỉ số IR biến động từ 0 - 100%.

Khi chỉ số IR từ 78,08% - 95% R (Rare species) loài hiếm, chỉ số IR từ 95 - 97% loài rất hiếm MR (Very rare species), chỉ số IR > 97% loài cực kỳ hiếm RR (Extremely rare species). Cuối cùng tác giả biểu thị độ đa dạng bằng biểu đồ. Với việc chỉ ra chỉ số hiếm và mức độ hiến bằng công thức tính toán, công trình nghiên cứu của Guarino C. (2006) góp phần khẳng định tính khoa học và chính xác của phương pháp định lượng trong nghiên cứu đa dạng sinh học.2 Những nghiên cứu về đa dạng thực vật thân gỗ ở Việt Nam Thái Văn Trừng (1978) nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam.

Trên quan điểm sinh thái phát sinh, tác giả đã phân chia thảm thực vật Việt Nam thành các kiểu, kiểu phụ, kiểu trái và thấp nhất các ưu hợp. Trong các yếu tố phát sinh thì khí hậu là yếu tố phát sinh ra kiểu thực vật và con người là yếu tố phát sinh của các kiểu phụ, kiểu trái và ưu hợp, địa lý, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, khu hệ thực vật. download by : skknchat@gmail.com 6 Công trình nghiên cứu của Nguyễn Tiến Bân (2003) đã thống kê và đi đến kết luận thực vật Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam có 8.050 chi trong đó lớp Hai lá mầm 1.590 chi và trên 6.300 loài và lớp Một lá mầm 460 chi với 2. Trương Quang Học và ctv (2008) đã nghiên cứu đa dạng sinh học khu vực Bắc Trường Sơn.

Các tác giả dùng phương pháp khảo sát theo tuyến.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ