CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG QUẢN LÝ CẢM XÚC LO ÂU TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI 1. Khái niệm Vấn đề về kỹ năng trong khía cạnh tâm lý học vẫn luôn là một đề tài được nhiều tác giả, nhà nghiên cứu chú trọng và đề cập. Theo đó có thể nhìn nhận kỹ năng theo hai khuynh hướng, cụ thể: Thứ nhất, kỹ năng được nhìn nhận với quan điểm là về mặt kỹ thuật của hành động, cách thức thực hiện công việc. Theo Kruchetxki (1981): “Kỹ năng là phương thức thực hiện một hoạt động nào đó nhờ sử dụng thủ thuật, những phương thức đúng đắn [13, tr.
Tương tự, Côvaliôp không đề cập đến kết quả hành động. Ông cho rằng, kết quả hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng hơn cả là năng lực con người chứ không đơn giản là nắm vững hành động là đem lại kết quả tương ứng: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động” (dẫn theo Đỗ Văn Đoạt, 2013) [6, tr. Levitov: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định”.[11] Dựa trên quan điểm này, ông cho rằng những người có kỹ năng là những người phải nắm bắt và vận dụng một cách đúng đắn về những cách thức hành động giúp cho việc thực hiện hành động đạt được hiệu quả. Bên cạnh đó ông cũng nhấn mạnh, con người có kỹ năng là không chỉ đơn thuần nắm vững lý thuyết mà còn phải biết cách đưa những lý thuyết đó vào đời sống thực tế.
Thứ hai, kỹ năng được xem xét dưới quan điểm là khả năng, năng lực của con người, được biểu hiện dưới dạng là hành động mang lại kết quả. 8 Platônôp và Gôlubep (1977) cho rằng: “Kỹ năng là năng lực của con người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện khác nhau” [15, tr. Petrovxki (1982) cũng đưa ra quan điểm rằng: “Kỹ năng là sự vận dụng những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đã có để có thể lựa chọn và thực hiện những phương thức hoạt động thích ứng với mục đích đề ra” [16, tr. Tác giả Vũ Dũng (2000): “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hoạt động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện các nhiệm vụ tương ứng” [3, tr.132] Vũ Dũng (Chủ biên, 2000), Từ điển tâm lý học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Từ điển Tâm lý học Penguin định nghĩa: “Kỹ năng là khả năng thực hiện những kiểu hành vi phức hợp, có kế hoạch một cách trôi chảy, phù hợp nhằm đạt kết quả hay mục tiêu” [36, tr.701] Thuật ngữ “kỹ năng” có ý nghĩa thiên về hoạt động máy móc, cơ học. Tuy nhiên hiện nay, kỹ năng được dùng trong miêu tả nhiều khía cạnh của cuộc sống, trong đó có thể kể đến một số thuật ngữ khác như: kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử,. Qua những phân tích và nghiên cứu ở trên, chúng tôi tiếp cận và sử dụng thuật ngữ “kỹ năng” theo hướng thiên về năng lực con người: “Kỹ năng là khả năng thực hiện các hoạt động, vận dụng các kiến thức qua đó đạt được kết quả hay mục tiêu nhất định”. Tiêu chí đánh giá kỹ năng Tính chính xác của kỹ năng, tức là chủ thể hầu như không còn gặp phải sai sót trong quá trình thực hiện thao tác, hành động.
Tính chính xác bao gồm nhận thức chính xác mục đích, yêu cầu của kỹ năng, thực hiện chính xác các thao tác cần thiết của kỹ năng theo một trình tự logic.2] Tính thuần thục của kỹ năng, tức là trong quá trình thực hiện hành động, chủ thể thực hiện các thao tác một cách thành thạo, thuần thục, không còn những thao tác thừa, không còn gặp vướng mắc khi triển khai hành động. 9 Các thao tác được kết hợp hợp lý về số lượng và trình tự. Có được sự thành thục là một trong những biểu hiện đỉnh cao của kỹ năng.9-10] Tính linh hoạt của kỹ năng, chủ thể có thể thực hiện được có hiệu quả hành động đó mà trong những trường hợp tương tự hoặc trong những hoàn cảnh khác vẫn biết cách sử dụng các tri thức, kinh nghiệm hiệu quả. Tính linh hoạt còn thể hiện ở chỗ chủ thể biết bỏ đi những thao tác không cần thiết, không phù hợp trong những tình huống nhất định hoặc thêm vào những thao tác phù hợp để thực hiện có hiệu quả hành động khả năng thay đổi theo những điều kiện luôn biến đổi.
Tính linh hoạt là biểu hiện dấu hiệu đặc trưng của sự sáng tạo của kỹ năng. Tính hiệu quả của kỹ năng được coi là đích cuối cùng của hành động có kỹ năng. Tính hiệu quả là biểu hiện năng lực của cá nhân khi thực hiện hành động với chất lượng nhất định theo mong muốn. Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu còn đề cập đến tính đầy đủ, tính khái quát của kỹ năng.
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chỉ sử dụng ba tiêu chí tính chính xác, tính thuần thục, tính linh hoạt đã phân tích ở trên để đánh giá kỹ năng của sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội. Các mức độ của kỹ năng Kỹ năng được hình thành và bộc lộ ở nhiều mức độ khác nhau. Có nhiều quan điểm khác nhau về mức độ của kỹ năng.Golubev đưa ra năm mức độ hình thành kỹ năng: Mức độ 1: có kỹ năng sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và sai; Mức độ 2: biết cách thực hiện hành động không đầy đủ; Mức độ 3: có những kỹ năng chung nhưng còn mang tính chất rời rạc, riêng lẻ; Mức độ 4: có những kỹ năng chuyên biệt để hành động; Mức độ 5: vận dụng sáng tạo những kỹ năng trong các tình huống khác nhau.Levitov chia kỹ năng thành hai loại: Kỹ năng sơ bộ: kỹ năng biểu hiện ở thí nghiệm thành công lúc đầu trong việc hoàn thành một động 10 tác và có một số kết quả nhất định; kỹ năng ở giai đoạn phát triển cao: kỹ năng đòi hỏi thực tiễn luyện tập và nó dần dần biến thành kỹ xảo.[11] Tác giả Vũ Dũng cho rằng kỹ năng phát triển qua 3 giai đoạn nên có 3 loại: Kỹ năng ở mức độ làm quen với vận động và lĩnh hội vận động; kỹ năng ở mức độ tự động hoá vận động; kỹ năng ở mức độ ổn định hoá và tiêu chuẩn hoá.[4] Tác giả Trần Quốc Thành cho rằng kỹ năng được hình thành qua 4 mức độ: Mức độ 1: có tri thức về kỹ năng; Mức độ 2: có kỹ năng nhưng chưa thành thạo; Mức độ 3: có kỹ năng ở mức độ thành thạo; Mức độ 4: có kỹ năng ở mức độ linh hoạt, sáng tạo. Phân tích cách đánh giá mức độ kỹ năng ở trên cho thấy, có nhiều tiêu chí và nhiều mức độ đánh giá kỹ năng, tuy nhiên trong phạm vi đề tài này, chúng tôi điểm phân chia kỹ năng thành 5 mức độ: Kém – yếu – trung bình – khá – tốt.
Khái niệm Quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, mọi thời đại. Thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một khái niệm thống nhất. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều khái niệm Quản lý từ các góc độ khác nhau: F.Taylo (1856-1915), người đề xuất thuyết “Quản lý khoa học” cho rằng: Quản lý là biết được điều bạn muốn người khác làm, và sau đó thấy được họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Hoạt động quản lý ở bất kỳ tổ chức nào cũng đều có các hoạt động cơ bản liên quan đến các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra trên cơ sở thu thập và xử lý thông tin.
11 Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “ Quản lí là quá trình gây tác động của chủ thể quản lý đến khách thể QL nhằm đạt mục tiêu chung”.[1, tr 16] Tác giả Trần Hồng Quân cũng nhấn mạnh: “ Quản lí là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [20, tr24]. Những quan niệm về quản lý của các tác giả trên tuy có khác nhau về cách tiếp cận nhưng đều thể hiện một số điểm chung nhất về quản lý như sau: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra. Khái niệm Trong lịch sử, cảm xúc là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm.
Tuỳ theo những mối quan tâm và ngành nghiên cứu mà rất nhiều định nghĩa về cảm xúc được đưa ra. Trên thực tế, cảm xúc là một vấn đề phức tạp mà để nghiên cứu một cách thấu triệt cần đến sự kết hợp của nhiều ngành khoa học như ngôn ngữ học, nhân chủng học, tâm lý học, xã hội học… Cảm xúc là phản ứng, là sự rung động của con người trước tác động của yếu tố ngoại cảnh. Nói một cách khác, một cái gì đó xảy ra trong môi trường của bạn và bộ não của bạn diễn giải nó. Nếu nó được coi là một mối đe dọa, 12 não sẽ tiết ra các hormone gây căng thẳng bao gồm adrenaline và cortisol.
Đây là nguyên nhân dẫn đến cảm giác như sợ hãi, lo lắng hoặc tức giận. Nếu não cho rằng một hoàn cảnh nào đó là bổ ích, nó sẽ giải phóng các hoóc môn khiến bạn cảm thấy tốt như oxytocin, dopamine và serotonin, khi đó xuất hiện những cảm xúc như hạnh phúc, vui vẻ, hứng thú hoặc kích thích. Xiec Nop (1975) định nghĩa: “Xúc cảm là những rung động đơn giản nhất có liên quan đến việc thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu của cơ thể” [27, tr.