Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC TIẾNG ANH LỚP 1 THÔNG QUA TRÒ CHƠI TƯƠNG TÁC 1. Tổng quan nghiên cứu về dạy học tiếng Anh lớp 1 thông qua trò chơi tương tác 1. Nghiên cứu ngoài nước J.A Comenxky (1632), nhà giáo dục lỗi lạc người Tiệp Khắc, trong tác phẩm nổi tiếng “Lý luận dạy học vĩ đại”, ông đã khẳng định trò chơi dạy học là một dạng hoạt động trí tuệ nghiêm túc, là nơi mọi khả năng của trẻ em được phát triển, mở rộng phong phú thêm vốn hiểu biết. Với quan điểm trò chơi là niềm vui sướng của tuổi thơ, là phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ.
Ông đã khuyên người lớn phải chú ý đến trò chơi dạy học cho trẻ và phải hướng dẫn, chỉ đạo đúng đắn cho trẻ chơi. Tác phẩm đã trình bày về mô hình giáo dục hiện đại mà ngày nay chúng ta đang cố gắng phấn đấu áp dụng. Comenxky chú ý phát triển mạnh mẽ năng lực nhận thức của học sinh, làm bùng lên ngọn lửa khát khao tri thức, say mê trong học tập. Theo ông để làm được điều đó thì người dạy phải tạo được sự yêu thích ở người học.
Phải khuyến khích tính tò mò của người học thông qua các hoạt động mang tính tương tác, tò mò, mới lạ. Kharlamov (1978), tác giả đã trích dẫn ý kiến của nhà nghiên cứu Usinxki, nhà giáo dục Nga đã nhiều lần khẳng định để mọi sự học tập có hiệu quả thì cần tầm quan trọng của tính tích cực và độc lập trong quá trình dạy học. Ông viết: “Nói chung trẻ em suy nghĩ bằng hình dáng, màu sắc, âm thanh, và cảm giác. Vì thế dạy học theo trực quan đối với nhi đồng là cần thiết.” Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, một số nhà khoa học giáo dục Nga như: P.
đã đánh giá cao vai trò giáo dục, đặc biệt là tính hấp dẫn của trò chơi dân gian Nga đối với trẻ mẫu giáo.Pokrovxki trong lời đề tựa cho tuyển tập “Trò chơi của trẻ em Nga” đã chỉ ra nguồn gốc, giá trị đặc biệt và tính hấp dẫn lạ thường của trò chơi dân gian Nga. Vào những năm 30-40-60 của thế kỷ XX, vấn đề sử dụng trò chơi dạy học trên “tiết học” được phản ánh trong công trình của R.Giucovxkaia đã nâng cao vị thế của dạy học bằng trò chơi. Bà chỉ ra những tiềm năng và lợi thế của những “tiết học” dưới hình thức trò chơi học tập, coi trò chơi học tập như là hình thức dạy học, giúp người học lĩnh hội những tri thức mới. Từ những ý tưởng đó, bà đã soạn thảo ra một số “tiết học – trò chơi” và đưa ra một số yêu cầu khi xây dựng chúng.
Vygotsky (1981), cho rằng trẻ trải nghiệm tri thức và những kỹ năng thông qua những tương tác với bạn cùng tuổi và những người lớn khác. Từ đó, trẻ sẽ định hình tri thức và những kỹ năng được trải nghiệm trong suốt những tương tác đó. Cuối cùng trẻ sử dụng tri thức và các kỹ năng này để hướng dẫn và chỉ đạo cho hành vi của chính mình. Lý thuyết dạy học biện chứng, ông cho rằng cơ chế của việc học là cơ chế kết hợp giữa cá nhân và học hợp tác.
Dạy học là sự hợp tác hai chiều giữa thầy và trò. Vì vậy, trong hoạt động dạy học cần phải có sự tương tác giữa thầy và trò. Mania Moayad Mubaslat (2012), về “Hiệu quả của việc sử dụng các trò chơi giáo dục đối với học sinh đạt thành tích tiếng Anh trong giai đoạn tiểu học.” Ông xác định vai trò của trò chơi giáo dục có tính tương tác so với phương pháp truyền thống. Nó có hiệu quả hơn trong giai đoạn học tiếng Anh cho trẻ.
Trong phân tích ANOVA, phân tích tương quan của Pearson thì kết quả bài kiểm tra của học sinh khi học thông qua hoạt động trò chơi tương tác có cải thiện chất lượng hơn. Ông khẳng định, đối với học sinh tiểu học, đặc biệt là giai đoạn nhỏ nhất là lớp mới học tiếng Anh. Giáo viên cần dạy ngôn ngữ bằng trò chơi để học sinh dễ dàng tiếp cận khi học ngôn ngữ thứ hai. Trò chơi khi sử dụng mang tính thu hút, cạnh tranh và vui vẻ.
Nó sẽ kích thích tính tò mò, muốn khám phá và chinh phục của trẻ nhỏ. Ngoài ra nó còn giảm sự căng thẳng trong lớp học. 7 Luan van Ersoz (2000), các trò chơi nhằm thúc đẩy động lực học tập cho trẻ cao bởi vì chúng thú vị. Chúng có thể được sử dụng để thực hành tất cả các kỹ năng ngôn ngữ và được sử dụng để thực hành nhiều loại hình giao tiếp.
Lý do chính tại sao các trò chơi được coi là công cụ hỗ trợ học tập hiệu quả là vì chúng thúc đẩy động lực và giúp học sinh nỗ lực tham gia trò chơi. Hơn nữa học sinh sẽ cố gắng hơn trong các trò chơi so với các môn học khác vì các em sẽ cố gắng dành chiến thắng hoặc đánh bại các đội khác. Học sinh cạnh tranh trong khi chơi bởi vì các em muốn ghi điểm và giành chiến thắng. Trong lớp, học sinh chắc chắn sẽ tham gia vào các hoạt động.
Do đó giáo viên có thể giới thiệu cho học sinh những ý tưởng ngữ pháp và kiến thức mới thông qua trò chơi khi tương tác với nhau. Có thể thấy rằng các trò chơi có thể thu hút sự chú ý và tham gia của học sinh. Nó có thể thúc đẩy học sinh muốn tìm hiểu thêm kiến thức mới và biến một lớp học nhàm chán thành một lớp học đầy thách thức, thú vị. Lý do khác tại sao các trò chơi thường được sử dụng trong một lớp học tiếng Anh là vì chúng làm giảm căng thẳng của học sinh trong lớp học.
Học sinh học trong các lớp học thông thường có rất nhiều căng thẳng khiến học sinh cố gắng thành thạo ngôn ngữ trong tâm lý căng thẳng. Đây là một trở ngại lớn trong quá trình học ngôn ngữ. Quá trình này học theo cách truyền thống về bản chất là tốn thời gian và gây căng thẳng. Vì vậy không nên tạo sự căng thẳng trong lớp học ngôn ngữ đối với trẻ em.
Việc sử dụng các trò chơi giáo dục sáng tạo trong lớp học có thể làm tăng sự nhiệt tình và củng cố thông tin trong sách giáo khoa được trình bày trước đó. Tổ chức trò chơi tương tác cũng là một phương pháp giảng dạy và chia sẻ thông tin tích cực (Bailey, 1999). Các trò chơi giáo dục tương tác làm tăng động lực học tập và tạo hứng thú của học sinh khi tiếp nhận kiến thức. Ngoài ra khi tổ chức trò chơi, nó cho phép người hướng dẫn sáng tạo độc đáo về nội dung, chủ đề học tập (Odenweller, 1998).
Các trò chơi cũng thách thức học sinh áp dụng những kiến thức đã học trong bài để tham gia khi chơi, giành chiến thắng. Do đó giáo viên sẽ nhìn thấy và đánh giá được các kỹ năng của học sinh. Khi học sinh tham gia trò chơi trong học tiếng 8 Luan van Anh sẽ tạo ra bầu không khí cạnh tranh mang tính xây dựng đầy thách thức. Tạo điều kiện cho sự tương tác giữa các học sinh với nhau trong một môi trường vui vẻ và thân thiện để đạt hiệu quả cao (Patil, 1993).
Jean Marc Denommé, Madeleine Roy (2009), hai tác giả người Canada. Trong tác phẩm “Sư phạm tương tác - một tiếp cận khoa học thần kinh về dạy và học” của hai tác giả này đề cấp đến quan điểm sư phạm tương tác với cấu trúc gồn: người học, người dạy và môi trường. Còn nội dung kiến thức như là một yếu tố khách quan mà người dạy muốn hướng người học chiếm lĩnh. Trong tác phẩm này, tác giả phân tích kỹ người học học như thế nào.
Tuy nhiên, tác phẩm này vẫn chưa đề xuất các phương tiện cụ thể để vận dụng trong thực tiễn dạy học. Tác giả Schneider – một chuyên gia ngôn ngữ trẻ em tại Mỹ cho biết trẻ em tiếp xúc với tiếng Anh càng sớm càng tốt. Vì theo bà, não bộ của trẻ nhỏ, đặc biệt là các bé từ một đến năm tuổi được ví như một miếng bọt biển có thể hút các thông tin xung quanh rất nhanh và nhạy bén. Bên cạnh đó, cấu tạo của các cơ quan nghe và phát âm ở trẻ nhỏ trong giai đoạn này cũng giúp các bé dễ dàng bắt chước các cách phát âm khác nhau hơn.vn/hoc-tieng-anh/tieng-anh-tre-em).
Để học viên nhỏ tuổi tăng khả năng tập trung khi học tiếng Anh, thầy cô cần kết hợp thời gian dạy tiếng Anh cho con cùng với các trò chơi vận động, đố chữ, hoặc những bài hát có giai điệu vui tai, tiết tấu vừa phải cũng như từ ngữ đơn giản nhằm giúp bé dễ dàng ghi nhớ và hát theo. Ngoài ra, khi dạy trẻ từ vựng mới, người dạy nên sử dụng thêm các bức tranh, ảnh đa dạng và sinh động để tạo hứng thú khi học. Phương pháp dạy tiếng Anh kết hợp cùng hình ảnh minh họa, trò chơi vui nhộn sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp thu từ mới và ghi nhớ lâu hơn. Đào Thanh Âm, Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang (2008), trong nền giáo dục cổ điển, ý tưởng sử dụng trò chơi với mục đích dạy học được thể hiện đầy đủ trong hệ thống giáo dục của nhà sư phạm người Đức Ph.
Ông là người đã khởi xướng và đề xuất ý tưởng kết hợp dạy học với trò chơi cho trẻ. Quan điểm của ông về trò chơi phản ánh cơ sở lý luận sư phạm duy tâm thần bí. Ông cho rằng thông qua trò chơi trẻ nhận thức được cái khởi đầu do thượng đế sinh ra tồn tại 9 Luan van ở khắp mọi nơi, nhận thức được những qui luật tạo ra thế giới, tạo ra ngay chính bản thân mình. Vì thế ông phủ nhận tính sáng tạo và tính tích cực của trẻ trong khi chơi.Phroebel cho rằng, nhà giáo dục chỉ cần phát triển cái vốn có sẵn của trẻ, ông đề cao vai trò giáo dục của trò chơi trong quá trình phát triển thể chất.
Đào Thanh Âm, Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang (2008), I.Bazedov cho rằng, trò chơi là phương tiện dạy học. Theo ông, nếu trên tiết học, giáo viên sử dụng các phương pháp, biện pháp chơi hoặc tiến hành tiết học dưới hình thức chơi thì sẽ đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của người học và tất nhiên hiệu quả tiết học sẽ cao hơn. Ông đã đưa ra hệ thống trò chơi học tập dùng lời như: trò chơi gọi tên, trò chơi phát triển kỹ năng khái quát tên gọi của cá thể, trò chơi đoán từ trái nghĩa, điền những từ còn thiếu .