phần Mở đầu, Kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng: Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Chƣơng 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC BÀI PHONG CÁCH NGÔN NGŨ BÁO CHÍ Ở LỚP 11 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 111 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cở sở lý luận 1. Cơ sở ngôn ngữ học Thuật ngữ “năng lực giao tiếp” tuy xuất hiện sau thuật ngữ “năng lực ngôn ngữ” nhƣng nhờ sự xuất hiện ấy mà “năng lực giao tiếp” đã làm thay đổi quan điểm dạy học Tiếng Việt hiện nay, trở thành mục đích cuối cùng của việc dạy và học Tiếng Việt. Khái niệm “năng lực giao tiếp” đƣợc hiểu thông qua sự đối lập với khái niệm “năng lực ngôn ngữ”.
Năng lực ngôn ngữ là khả năng của con ngƣời tạo ra đƣợc những câu đúng trên cơ sở nắm vững những kiến thức ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm, tu từ… của ngôn ngữ đó. Còn năng lực giao tiếp, đó là việc lựa chọn và hiện thực hóa những chƣơng trình của hành vi lời nói tùy thuộc vào khả năng định hƣớng trong hoàn cảnh này hoặc khác, khả năng phân loại các tình huống sao cho phù hợp với chủ đề, nhiệm vụ và mục đích giao tiếp ở ngƣời học trƣớc khi giao tiếp và trong quá trình mô phỏng các tình huống giống và gần giống nhƣ giao tiếp thực. Nói cách khác, năng lực giao tiếp chính là khả năng tham gia vào giao tiếp. Thuật ngữ “năng lực giao tiếp” và “ năng lực ngôn ngữ” xuất hiện là nhờ có những công trình nghiên cứu đồ sộ của các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng về sự phân biệt giữa hai khái niệm “ngôn ngữ” (language) và “lời nói” (speech).
Trong đó, phải kể đến công trình của các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Ferdinan De Saussure [Cours de linguistiquegenerale (Giáo trình Ngôn ngữ học Đại cương) (1916)]. Còn khái niệm “năng lực” ở nghĩa ban đầu chỉ là khả năng đối với một việc gì đó, sau đó đƣợc Noam Chomsky đƣa vào dùng một cách chính thức trong lĩnh vực ngôn ngữ học (Những chân trời mới trong nghiên cứu ngôn ngữ và ý thức (2008), dịch giả Hoàng Văn Vân). Có thể nói, việc chọn năng lực giao tiếp làm mục đích cuối cùng của việc dạy – học ngôn ngữ dựa trên cơ sở ngôn ngữ học chức năng hay còn gọi là ngôn ngữ giao tiếp mà những luận điểm cơ bản của nó có thể đƣợc trình bày rút gọn nhƣ sau: Giao tiếp với tƣ cách là một dạng hoạt động đặc biệt của con ngƣời nhằm củng cố mối quan hệ và đƣợc sử dụng để truyền đạt thông tin giữa ngƣời và ngƣời. Ở đây, có hai mặt phản ánh qua lại, mặt ngôn ngữ và mặt xã hội vì bất cứ một phát ngôn nào cũng đƣợc sản sinh trong một tình huống cụ thể có kèm theo một nền rất rộng các điều kiện tạo ra tình huống ấy.
112 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngôn ngữ đƣợc sử dụng có tính đến tình huống giao tiếp và sự ảnh hƣởng tới những đặc điểm tâm lý cá thể trong việc sử dụng từ ngữ của ngƣời tham gia giao tiếp, có nghĩa là có tính đến hiệu quả ứng dụng, điều đó từ khả năng tồn tại những phát ngôn riêng biệt đƣợc tạo nên ngoài ngữ cảnh giao tiếp. Đơn vị giao tiếp là loại hành động lời nói hoặc hành vi lời nói khẳng định yêu cầu hỏi han, xin lỗi, cảm ơn… Việc hình thành ý định lời nói xảy ra khi sản sinh hành vi lời nói. Khi hình thành ý định lời nói có tính đến sự hiểu biết ban đầu về mục đích, đối tƣợng giao tiếp, địa điểm và thời gian của phát ngôn. Nói tóm lại, theo những luận điểm trên đây thì dạy – học ngôn ngữ là đi theo con đƣờng từ nội dung đến hình thức ngôn ngữ để biểu đạt.
Ngôn ngữ là phƣơng tiện để thực hiện những phát ngôn cụ thể. Dạy hoạt động ngôn ngữ (tức là dạy năng lực giao tiếp) chứ không phải dạy hệ thống ngôn ngữ thuần túy. Tuy nhiên, trong quá trình dạy – học hai mặt năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp thống nhất biện chứng với nhau. Dạy năng lực giao tiếp không thể tách rời các hiện tƣợng ngôn ngữ, ngƣợc lại những kiến thức của hệ thống ngôn ngữ chỉ đƣợc xây dựng và củng cố trên cơ sở nắm đƣợc các kĩ năng lời nói.
Cơ sở tâm lí – ngôn ngữ Theo quan điểm tâm lý học hoạt động do nhà tâm lý học ngƣời Nga L. Vƣ- gốtxki và trƣờng phái của ông đề xƣớng thì hoạt động lời nói là một hoạt động đặc biệt của con ngƣời, mà hoạt động thì bao gồm nhiều hành động riêng lẻ và mỗi hành động đƣợc tạo ra từ nhiều thao tác riêng biệt. Từ đó suy ra đơn vị dạy - học ngôn ngữ phải là hành động lời nói. Dạy hành động lời nói cần phải xem xét trên quan điểm: Dạy ai?, Dạy cái gì?, Dạy để làm gì?, Dạy như thế nào?.
Đối với việc dạy hoạt động lời nói, sự thống nhất giữa các mặt chức năng và hình thức của nó là điều có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì hình thức ngôn ngữ không thể có đƣợc nếu thiếu mặt chức năng. Nếu mục đích của việc dạy - học là hoạt động lời nói thì hình thức và chức năng cần phải đƣợc hình thành đồng thời, hơn thế, cơ sở để hình thành hoạt động lời nói phải là chức năng giao tiếp của ngôn ngữ. Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng rất nhiều thành tựu của Tâm lí học. Đó là các quy luật tiếp thu tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo.
Giáo viên cần biết, sản phẩm lời nói đƣợc sản 113 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sinh ra nhƣ thế nào, quá trình học đƣợc thiết lập từ những yếu tố nào, khái niệm ngữ pháp đƣợc hình thành ở học sinh ra sao, vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển tƣ duy ra sao, kỹ năng nói, viết đƣợc hình thành nhƣ thế nào? Những nghiên cứu Tâm lí học cho phép chúng ta xác định mức độ vừa sức của tài liệu học tập. Mặt khác, Tâm lí ngôn ngữ học đem lại cho phƣơng pháp những số liệu về lời nói nhƣ một hoạt động, ví dụ nhƣ việc xác định tình huống nói năng, các giai đoạn sản sinh lời nói, tính hiệu quả, sự tác động của lời nói trong giao tiếp giữa các cá thể với nhiều ngƣời. Quan hệ của phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt và Tâm lí học lứa tuổi rất chặt chẽ. Không có kiến thức về quá trình tâm lí ngƣời nói chung và tâm lí học sinh trung học phông nói riêng thì không thể giảng dạy tốt và phát triển ngôn ngữ cho các em.
Kiến thức thu nhận đƣợc từ con đƣờng tự khám phá mới là kiến thức vững chắc nhất, đáng tin cậy nhất. Ngƣời Mỹ có câu châm ngôn: “Nói cho tôi thì tôi sẽ quên. Cho tôi xem thì tôi có thể sẽ nhớ. Cho tôi tham gia thì tôi sẽ hiểu.
Ngƣời Việt Nam ta cũng có một cách nói tƣơng tự: “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”. Cách đây hơn 5 thế kỉ, Khổng Tử cũng nói: “Tôi nghe – tôi quên. Tôi nhìn – tôi nhớ. Tôi làm – tôi hiểu”.
Quan điểm học phƣơng Tây đã mở rộng câu nói của Khổng Tử thành luận điểm phương pháp học chủ động (the active learning credo): Tôi nghe – tôi quên. Tôi nghe và nhìn – tôi nhớ chút ít. Tôi nghe, nhìn, hỏi hoặc thảo luận – tôi bắt đầu hiểu. Tôi nghe, nhìn, hỏi, thảo luận và thực hành – tôi bắt đầu học được kĩ năng và kiến thức.
Tôi dạy cho người khác – tôi thành thạo”. Các chuyên gia giáo dục Mỹ còn nghiên cứu và đƣa ra tỉ lệ mức độ tiếp thu trung bình của ngƣời học từ các phƣơng thức dạy học: Thuyết giảng: 0.5%; đọc 10%; nghe nhìn: 20%; mô tả, trình bày: 30%; Thảo luận nhóm: 50%; thực hành: 75%; Dạy cho ngƣời khác hoặc ứng dụng ngay của việc học: 90%” (Tạp chí Giáo dục, số 229, 1/2010).Nhƣ vậy, hầu hết các ý kiến và quan điểm nghiên cứu phƣơng Đông và phƣơng Tây đều khẳng định tầm quan trọng của việc tổ chức hoạt động học tập ở ngƣời học. Cơ sở giáo dục học Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt là một bộ phận của khoa học giáo dục nên nó phụ thuộc vào những quy luật chung của khoa học này. Giáo dục học nói chung, Lí luận dạy học đại cƣơng nói riêng cung cấp cho phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt những hiểu biết về các quy luật chung của việc dạy học môn học.
Mục đích của phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt cũng nhƣ các khoa học giáo dục nói chung là tổ chức sự phát triển tâm hồn và thể chất của học sinh, chuẩn bị cho các em đi vào cuộc sống lao động xã hội mới. Quan hệ của phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt với khoa học 114 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giáo dục thể hiện ở chỗ phƣơng pháp đƣợc một hệ thống giáo dục tạo ra và làm cơ sở. Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt sử dụng các khái niệm, thuật ngữ của Giáo dục học. Nó hiện thực hóa mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục do Giáo dục đề ra – phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học, phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh, giáo dục tƣ tƣởng đạo đức, phát triển óc thẩm mĩ giáo dục tổng hợp và giáo dục lao động.
Trong phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt có thể tìm thấy các nguyên tắc cơ bản của Lí luận dạy học: nguyên tắc giáo dục và phát triển của dạy học, nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc khoa học, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn liền lí thuyết với thực hành, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc tiếp cận cá thể và phân hóa trong dạy học… Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng những nguyên tắc này theo đặc trƣng riêng của mình. Ví dụ nguyên tắc gắn liền lí thuyết và thực hành trong phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt đòi hỏi một hoạt động lời nói thƣờng xuyên, biểu hiện ý nghĩ bằng lời nói, viết, cùng với việc thƣờng xuyên vận dụng những hiểu biết lí thuyết trong bài tập. Nhiệm vụ phát triển lời nói đã quy định việc xây dựng chƣơng trình Tiếng Việt mà tất cả các phân môn đều có mục phát triển bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.