Tổng quan nghiên cứu

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là chiến lược then chốt nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X và Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, mục tiêu đặt ra là đào tạo khoảng 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm, phấn đấu đến năm 2020 có trên 80% học viên tìm được việc làm phù hợp sau đào tạo. Tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh – địa bàn biên giới ven biển có vị trí chiến lược về kinh tế mậu biên và nuôi trồng thủy sản, quá trình đô thị hóa nhanh chóng đã khiến diện tích đất nông nghiệp suy giảm, đòi hỏi lực lượng lao động phải chuyển đổi nghề nghiệp linh hoạt và nâng cao tay nghề thực tế.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề bất cập giữa nhu cầu thị trường lao động với thực trạng kỹ năng nghề của người dân nông thôn địa phương. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục cộng đồng, đánh giá toàn diện thực trạng dạy nghề tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên thành phố Móng Cái giai đoạn 2014 – 2016, tập trung vào hai chương trình trọng điểm: Kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng và Tiếng Trung Thương mại và Du lịch. Từ đó, đề tài xây dựng hệ thống biện pháp quản lý và nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo có việc làm ổn định đạt trên 82%, gia tăng năng suất nuôi trồng thủy sản từ 20% đến 30% và cải thiện mức thu nhập bình quân của học viên từ 25% đến 35% sau khi hoàn thành khóa học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của các học thuyết kinh tế và giáo dục kinh điển. Lý thuyết vốn con người của nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Gary Becker khẳng định rằng không có khoản đầu tư nào mang lại nguồn lợi to lớn và lâu bền như đầu tư vào con người thông qua giáo dục và đào tạo kỹ năng. Bên cạnh đó, luận văn kế thừa lý thuyết phân công lao động xã hội của Adam Smith từ công trình kinh điển năm 1776, nhấn mạnh chuyên môn hóa nghề nghiệp là động lực trực tiếp gia tăng của cải xã hội. Học thuyết kinh tế phát triển của Michael Todaro năm 1998 về di cư và việc làm tại các nước đang phát triển cũng được vận dụng nhằm giải thích sự cần thiết của việc tạo sinh kế tại chỗ cho cư dân nông thôn, hạn chế làn sóng di cư tự phát ra các đô thị lớn.

Bốn khái niệm công cụ cốt lõi được định nghĩa và chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm:

Thứ nhất, giáo dục cộng đồng là nguyên tắc tổ chức giáo dục xuất phát từ nguyện vọng của cư dân địa phương, hướng tới nâng cao chất lượng sống và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững thông qua học tập suốt đời.

Thứ hai, dạy nghề theo Luật Dạy nghề năm 2006 là hoạt động trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết để người học có khả năng tự tạo việc làm hoặc tìm kiếm việc làm phù hợp với 3 cấp trình độ: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề.

Thứ ba, lao động nông thôn được xác định là công dân từ 15 tuổi trở lên cư trú tại địa bàn nông thôn, có khả năng lao động và tham gia vào các hoạt động kinh tế nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp.

Thứ tư, dạy nghề cho lao động nông thôn là quá trình kết hợp chặt chẽ giữa truyền đạt lý thuyết và rèn luyện kỹ năng thực hành, thích ứng với tính chất mùa vụ và đặc thù sinh thái, kinh tế của từng vùng miền.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu hỗn hợp kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tổng kết giai đoạn 2014 – 2016 của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên thành phố Móng Cái, Ủy ban nhân dân thành phố Móng Cái, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ninh và nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập qua khảo sát thực địa.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 200 khách thể, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện. Trong đó bao gồm 15 cán bộ quản lý, 25 giáo viên trực tiếp giảng dạy và 160 học viên là lao động nông thôn đã và đang theo học các lớp đào tạo nghề ngắn hạn. Phương pháp chọn mẫu này đảm bảo tính đại diện cao cho các nhóm đối tượng tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo nghề tại địa phương.

Về phương pháp phân tích, tác giả sử dụng hệ thống phiếu hỏi thiết kế theo thang đo Likert 5 mức độ để đánh giá thực trạng và mức độ cấp thiết, tính khả thi của các giải pháp. Dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS, sử dụng các chỉ số thống kê mô tả như điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn, bảng phân phối tần số và kiểm định tương quan. Lý do lựa chọn kết hợp phân tích thống kê định lượng với quan sát sư phạm và phỏng vấn sâu chuyên gia là nhằm lượng hóa chính xác các nhận định thực tiễn, đảm bảo tính khách quan khoa học và tránh những suy diễn chủ quan trong quá trình đánh giá hiệu quả dạy nghề.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực tế tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên thành phố Móng Cái giai đoạn 2014 – 2016 đã làm sáng tỏ 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, quy mô đào tạo có sự phát triển rõ nét theo hướng bám sát nhu cầu kinh tế địa phương. Trong 2 năm khảo sát, Trung tâm đã mở các lớp nghề ngắn hạn dưới 3 tháng cho hàng trăm lao động, trong đó lớp Kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng chiếm khoảng 45% tổng số học viên nhóm ngành nông nghiệp, còn lớp Tiếng Trung Thương mại và Du lịch chiếm khoảng 35% quy mô nhóm ngành dịch vụ phi nông nghiệp.

Thứ hai, kết quả đầu ra về kỹ năng nghề và sinh kế đạt hiệu quả tích cực. Có khoảng 82,5% học viên sau khi hoàn thành khóa kỹ thuật nuôi tôm đã áp dụng thành công quy trình quản lý ao nuôi an toàn sinh học và kiểm soát dịch bệnh, giúp giảm tỷ lệ rủi ro tôm chết từ mức 35% xuống dưới 15%, đồng thời tăng sản lượng thu hoạch bình quân thêm 20% đến 30% mỗi vụ.

Thứ ba, khóa học Tiếng Trung Thương mại và Du lịch mang lại hiệu quả chuyển đổi nghề nghiệp nhanh chóng. Khoảng 78% học viên sau đào tạo đã trực tiếp tham gia vào các hoạt động dịch vụ mậu biên, buôn bán tại chợ cửa khẩu hoặc làm nhân viên dịch vụ du lịch với mức thu nhập bình quân cải thiện từ 3,5 triệu đồng lên khoảng 6,5 triệu đồng mỗi tháng.

Thứ tư, nghiên cứu phát hiện những điểm nghẽn nghiêm trọng về nguồn lực. Có tới 64% ý kiến khảo sát đánh giá cơ sở vật chất, mô hình đầm nuôi thực nghiệm và phòng máy học tiếng chưa đáp ứng tốt yêu cầu thực hành. Bên cạnh đó, 58% học viên phản ánh lịch học đôi khi trùng với thời vụ thu hoạch, gây khó khăn cho việc duy trì sĩ số chuyên cần.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những thành công bước đầu là nhờ sự chỉ đạo sát sao của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh thông qua Quyết định số 1460/QĐ-UBND và các chính sách hỗ trợ tiền ăn, học phí kịp thời theo Quyết định số 1274/2012/QĐ-UBND. Tuy nhiên, các hạn chế tồn tại bắt nguồn từ nhận thức của một bộ phận người dân còn mang nặng tính thời vụ, muốn thấy lợi ích kinh tế trước mắt hơn là tích lũy kỹ năng bài bản. Đội ngũ giáo viên thỉnh giảng tuy có kiến thức chuyên môn tốt nhưng một số còn thiếu chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề và kinh nghiệm thực chiến trên các mô hình sản xuất công nghệ cao.

So sánh với các nghiên cứu tương đồng, điển hình như khảo sát của Nguyễn Thị Tú Anh năm 2016 tại huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, có thể thấy thách thức về mất cân đối cơ cấu lao động kỹ thuật là thực trạng chung trên phạm vi cả nước. Báo cáo của Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế – Xã hội Quốc gia từng cảnh báo cơ cấu đào tạo 1 đại học – 0,8 trung học – 3,7 công nhân tại Việt Nam gây ra sự thiếu hụt nghiêm trọng từ 3,8 đến 5,12 triệu lao động kỹ thuật trực tiếp.

Dữ liệu nghiên cứu của luận văn có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ cột kép so sánh mức thu nhập trước và sau đào tạo của hai nhóm nghề nuôi tôm và tiếng Trung, kết hợp bảng thống kê đa biến thể hiện tương quan giữa mức độ đầu tư cơ sở vật chất với tỷ lệ học viên đạt loại giỏi nhằm tạo cái nhìn trực quan, minh bạch cho các nhà hoạch định chính sách.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi đạt mức đồng thuận cao trên 85% từ đội ngũ cán bộ, giáo viên và chuyên gia, nghiên cứu đề xuất 5 giải pháp trọng tâm:

Một là, nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền và cộng đồng dân cư về vai trò của học nghề. Tổ chức tuyên truyền sâu rộng chính sách hỗ trợ của Nhà nước theo Quyết định 1956/QĐ-TTg qua hệ thống truyền thanh cơ sở và hội đoàn thể. Mục tiêu đạt 95% hộ nông dân tiếp cận đầy đủ thông tin tuyển sinh. Thời gian triển khai định kỳ vào quý 1 hàng năm do Ủy ban nhân dân thành phố Móng Cái chủ trì phối hợp với Hội Nông dân và Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên.

Hai là, đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy nghề theo hướng thực hành linh hoạt. Thiết kế chương trình đào tạo tích hợp mô-đun với tỷ lệ thời lượng thực hành chiếm tối thiểu 70%, điều chỉnh lịch học phù hợp với chu kỳ con nước và mùa vụ nuôi tôm. Mục tiêu chuẩn hóa 100% tài liệu giảng dạy trong quý 2 năm 2018 do Ban Giám đốc và các tổ bộ môn chuyên môn của Trung tâm thực hiện.

Ba là, đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề. Tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng sư phạm dạy nghề, đưa giáo viên đi thực tế tại các trang trại nuôi tôm công nghiệp và doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Mục tiêu đạt 90% giáo viên đạt chuẩn tay nghề bậc cao và kỹ năng sư phạm trước năm 2019 do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ninh phối hợp tổ chức.

Bốn là, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật. Xây dựng phòng thực hành ngoại ngữ đa phương tiện và liên kết với các hợp tác xã lập ao nuôi tôm trình diễn thực nghiệm. Mục tiêu nâng tỷ lệ đáp ứng thiết bị dạy nghề lên trên 85% trong giai đoạn 2018 – 2020 bằng nguồn vốn ngân sách thành phố và xã hội hóa.

Năm là, thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa đào tạo nghề với doanh nghiệp và giải quyết việc làm tại chỗ. Ký kết thỏa thuận cung ứng lao động cho các công ty du lịch mậu biên và bao tiêu sản phẩm thủy sản cho nông dân tốt nghiệp khóa học. Mục tiêu bảo đảm trên 85% học viên có việc làm hoặc tự mở rộng quy mô kinh doanh có lãi ngay sau khóa học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Cán bộ quản lý tại các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên cấp huyện, thị xã, thành phố ven biển. Tài liệu cung cấp khung giải pháp thực tế để tái cấu trúc chương trình đào tạo, tổ chức lớp học linh hoạt theo thời vụ và quản lý chất lượng giáo viên.

Lãnh đạo chính quyền địa phương và các phòng chuyên môn Lao động – Thương binh và Xã hội, Giáo dục và Đào tạo, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Nghiên cứu là căn cứ thực tiễn để hoạch định kế hoạch ngân sách, phân bổ chỉ tiêu đào tạo nghề và xây dựng cơ chế hỗ trợ sinh kế cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

Học viên cao học, giảng viên và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Khoa học Giáo dục, Giáo dục và Phát triển cộng đồng, Quản lý giáo dục. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp tiếp cận giáo dục cộng đồng và xử lý dữ liệu điều tra xã hội học bằng phần mềm thống kê.

Các doanh nghiệp dịch vụ du lịch, thương mại biên giới và hợp tác xã nuôi trồng thủy sản. Nguồn tài liệu giúp nhận diện năng lực lao động địa phương, từ đó chủ động phối hợp xây dựng chương trình đào tạo theo đơn đặt hàng nhân lực chất lượng cao.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn lựa chọn tập trung nghiên cứu những ngành nghề đào tạo cụ thể nào tại thành phố Móng Cái? Nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào hai nghề trọng điểm là Kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng và Tiếng Trung Thương mại và Du lịch. Đây là hai ngành nghề mũi nhọn gắn liền với tiềm năng thủy sản ven biển và hoạt động thương mại dịch vụ cửa khẩu đặc trưng của thành phố Móng Cái.

Tỷ lệ học viên có việc làm và cải thiện thu nhập sau các khóa đào tạo nghề tại Trung tâm đạt mức bao nhiêu? Theo số liệu khảo sát giai đoạn 2014 – 2016, tỷ lệ học viên có việc làm phù hợp và tự tạo việc làm đạt trên 80%. Thu nhập bình quân của lao động dịch vụ thương mại tăng từ 3,5 triệu đồng lên khoảng 6,5 triệu đồng mỗi tháng, trong khi các hộ nuôi tôm giảm tỷ lệ dịch bệnh xuống dưới 15% và tăng sản lượng thu hoạch thêm 20% đến 30%.

Tại sao chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần bố trí thời gian học linh hoạt theo mùa vụ? Lao động nông nghiệp có tính chất làm việc phụ thuộc chặt chẽ vào thời tiết và mùa vụ sản xuất. Việc bố trí các buổi học lý thuyết vào thời điểm nông nhàn và đưa thực hành vào đúng chu kỳ chăm sóc, thu hoạch tôm giúp học viên vừa tiếp thu kiến thức trực quan, vừa không bị gián đoạn công việc mưu sinh hàng ngày.

Những khó khăn lớn nhất trong công tác dạy nghề cho lao động nông thôn tại thành phố Móng Cái là gì? Nghiên cứu chỉ ra ba điểm nghẽn chính: cơ sở vật chất và trang thiết bị thực hành còn thiếu thốn, nhận thức của một bộ phận người dân về học nghề dài hạn chưa cao do tâm lý chuộng việc làm thời vụ trước mắt, và đội ngũ giáo viên cơ hữu còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn công nghệ cao.

Mô hình dạy nghề gắn với giải quyết việc làm của Trung tâm được triển khai như thế nào? Trung tâm thực hiện ký kết hợp tác ba bên giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp hoặc hợp tác xã tiêu thụ sản phẩm. Học viên được thực tập trực tiếp tại các ao nuôi mẫu hoặc cơ sở dịch vụ và được hỗ trợ giới thiệu việc làm hoặc kết nối nguồn vốn vay ưu đãi để tự lập nghiệp sau khi nhận chứng chỉ.

Kết luận

Công trình nghiên cứu đã hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ khoa học đề ra với những đóng góp nổi bật:

  • Khẳng định đào tạo nghề là đòn bẩy quyết định thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn vùng biên mậu Móng Cái.
  • Hệ thống hóa sâu sắc khung lý thuyết về giáo dục cộng đồng và dạy nghề cho lao động nông thôn theo chuẩn Luật Dạy nghề năm 2006.
  • Đánh giá khách quan thực trạng đào tạo giai đoạn 2014 – 2016, chứng minh hiệu quả nâng cao thu nhập trên 25% ở hai nghề nuôi tôm thẻ chân trắng và tiếng Trung thương mại.
  • Nhận diện chính xác các rào cản về cơ sở vật chất, nhận thức cộng đồng và năng lực thực hành của đội ngũ giáo viên giảng dạy.
  • Đề xuất 5 nhóm biện pháp quản lý đồng bộ với độ khả thi và tính cấp thiết được kiểm định đạt trên 85%, làm tài liệu tham khảo giá trị cho các địa phương ven biển có điều kiện tương đồng.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2018 đến năm 2020, các cơ quan quản lý và Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên thành phố Móng Cái cần khẩn trương số hóa tài liệu giảng dạy, mở rộng quy mô phòng máy ngoại ngữ và tăng cường ngân sách thực nghiệm. Các nhà hoạch định chính sách, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp hãy chủ động liên kết, chung tay đầu tư nguồn lực nhằm đưa công tác dạy nghề cho lao động nông thôn phát triển bền vững và hiệu quả.