CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOGISTICS VÀ DỊCH VỤ LOGISTICS HÀNG KHÔNG 1. Khái niệm, phân loại dịch vụ Logistics 1. Khái niệm dịch vụ Logistics 1. Khái niệm về logistics Logistics là một trong những số ít thuật ngữ khó dịch nhất, giống như từ “Marketing”, từ Tiếng Anh sang Tiếng Việt và thậm chí cả những ngôn ngữ khác.
Bởi vì bao hàm nghĩa của từ này quá rộng nên không một từ đơn ngữ nào có thể truyền tài được hết ý nghĩa của nó. Logistics có thể tạm dịch một cách sát nghĩa là “hậu cần”, nhưng có lẽ đến nay Tiếng Việt chưa có thuật ngữ tương đương. Chúng ta có thể chấp nhận từ Logistics như một từ đã được Việt hoá, cũng tương tự như nhiều từ khác trong thực tế đã chấp nhận như container, marketing… Về mặt lịch sử, thuật ngữ logistics bắt nguồn từ các cuộc chiến tranh cổ đại của đế chế Hy Lạp và La Mã. Khi đó, những chiến binh có chức danh “Logistikas” được giao nhiệm vụ chu cấp và phân phối vũ khí và nhu yếu phẩm, đảm bảo điều kiện cho quân sỹ hành quân an toàn từ bản doanh đến một vị trí khác.
Công việc “hậu cần” này có ý nghĩa sống còn tới cục diện của chiến tranh, khi các bên tìm mọi cách bảo vệ nguồn cung ứng của mình và tìm cách triệt phá nguồn cung ứng của đối phương. Quá trình tác nghiệp đó dần hình thành một hệ thống mà sau này gọi là quản lý Logistics. Trong thế chiến thứ hai, vai trò của “Logistics” càng được khẳng định. Đội quân hậu cần của quân đội Mỹ và đồng minh tỏ ra có hiệu quả hơn của quân đội Đức.
Quân Mỹ đã đảm bảo cung cấp vũ khí, đạn dược, và quân nhu đúng địa điểm, đúng thời gian, bằng những phương thức tối ưu. Nhờ phát huy ưu thế về công tác hậu cần mà Mỹ và đồng minh đã nhiều lần chiếm ưu thế trong cuộc chiến tranh. Cũng trong thời gian này, nhiều ứng dụng về logictics đã được phát triển và vẫn còn được sử dụng đến ngày nay, mặc dù đã có ít nhiều thay đổi để phù hợp với môi trường sản xuất kinh doanh. 7 Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về Logitics.
Hiện có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau, được xây dựng dựa trên từng góc độ và mục đích nghiên cứu khác nhau về Logistics, tuy nhiên có thể thấy logistics được hiểu cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, Logistics được hiểu như là một quá trình có tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hoá tới tay của người tiêu dùng cuối cùng, tiêu biểu là các định nghĩa: - Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả về mặt chi phí dòng lưu chuyển và phần dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cùng những thông tin liên quan từ điểm khởi đầu của quá trình sản xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng nhằm mục đích thoả mãn được các yêu cầu của khách hàng. - Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dung theo yêu cầu của khách hàng. Theo nghĩa hẹp, Logistics được hiểu như là các hoạt động dịch vụ gắn liền với quá trình phân phối, lưu thông hàng hoá và Logistics là hoạt động thương mại gắn với các dịch vụ cụ thể.
Ngoài ra còn có khá nhiều khái niệm được các nhà nghiên cứu về Logistics đưa ra thông qua từng góc độ nghiên cứu: - Logistics là quá trình tiên liệu trước các nhu cầu và mong muốn của khách hàng, sử dụng vốn, nguyên vật liệu, nhân lực, công nghệ và những thong tin cần thiết để đáp ứng nhu cầu và mong muốn đó, đánh giá những hàng hoá hoặc dịch vụ, hoặc mạng lưới sản phẩm có thoả mãn được yêu cầu của khách hàng một cách kịp thời nhất (Coyle, 2013). - Logistics là một tập hợp các hoạt động chức năng được lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt quy trình chuyển hoá nguyên vật liệu thành thành phẩm (Grundey, 2006). - Logistics là việc lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát sự di chuyển và sắp 8 đặt con người và/hoặc hàng hoá và các hoạt động hỗ trợ liên quan tới sự di chuyển và sắp đặt đó. Do tầm quan trọng đặc biệt của Logistics nên có nhiều trường phái, nhiều tác giả nghiên cứu Logistics và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau.
Tuy nhiên theo Luận văn “Logistics là quá trình tối ưu hoá về địa điểm và thời điểm, tối ưu hoá việc lưu chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ đầu vào nguyên thuỷ cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng với chi phí thích hợp, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Khái niệm dịch vụ logistics Điều 233 của Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 quy định: “Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ Logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô – gi – stic”. Khái niệm dịch vụ Logistics được chia thành hai nhóm như sau: - Thứ nhất nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa theo Luật thương mại 2005 như trên.
Tuy nhiên trong đó có tính mở, thể hiện trong đoạn “hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá”. Theo nhóm này, bản chất dịch vụ logistics là tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Theo đó dịch vụ logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics không có nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức.1: Vị trí của Dịch vụ Logicstics trong chuỗi cung ứng - Nhóm định nghĩa thứ 2 về dịch vụ logistics có phạm vi rộng: có tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng. Theo nhóm định nghĩa này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Nhóm định nghĩa này của dịch vụ logistics góp phần phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tư vấn quản lý … với một nhà cung cấp dịch vụ logisitcs chuyên nghiệp, người sẽ đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Như vậy, nhà chung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp đòi hỏi phải có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng để cung cấp dịch vụ mang tính “trọn gói” cho các nhà sản xuất. Đây là một công việc mang tính chuyên môn hóa cao. Ví dụ, khi một nhà cung cấp dịch vụ logistics cho một nhà sản xuất thép, anh ta sẽ chịu trách nhiệm cân đối sản lượng của nhà máy và lượng hàng tồn kho để nhập phôi thép, tư vấn cho doanh nghiệp về chu trình sản xuất, kỹ năng quản lý và lập các kênh phân phối, các chương trình makerting, xúc tiến bán hàng để đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng.
Phân loại dịch vụ Logistics Hiện nay, sự phát triển của quan hệ thương mại quốc tế đòi hỏi dịch vụ logistics ngày càng chuyên nghiệp để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng. Vì vậy dịch vụ 1PL, 2PL, 3PL, 4PL thậm chí cả 5PL trong logistics cần được chúng ta hiểu sâu sắc về bản chất để từ đó biết được về các loại hình dịch vụ logistics. - 1PL (First Party Logistics hay Logistics tự cấp) 1PL là hình thức dịch vụ mà những người sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động Logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân. Các công ty này có thể sở hữu phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết bị xếp dỡ và các nguồn lực khác bao gồm cả nhân lực để thực hiện các hoạt động logistics.
1PL có sự khác biệt rõ rệt với các loại hình Logistics còn lại bởi đặc trưng mang tính tự cấp dịch vụ logistics mà không cần đến một bên cung cấp dịch vụ logistics khác. Vì vậy, ở hình thức 1PL, người sở hữu hàng hóa sẽ tự đầu tư phương tiện vận tải, nguồn nhân lực và các công cụ hỗ trợ khác đế đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa của công ty. Đa số hình thức 1PL được áp dụng với những hàng hóa có kích thước không quá lớn, dễ vận chuyển và phạm vi vận chuyển hẹp, chủ yếu là nội bộ hoặc trong nước. Cũng có một số trường hợp, đó có thể là công ty rất lớn có khả năng tự thiết kế và điều hành hoạt động logistics.
Tuy vậy, với những doanh nghiệp không có quy mô cũng như không có đủ kinh nghiệm, trình độ, chất lượng nhân lực thì hình thức 1PL sẽ gây ra nhiều khó khăn, làm giảm hiệu quả lại dễ gây ra nhiều rủi ro và tốn kém chi phí. 2PL là việc quản lý các hoạt động truyền thống như vận tải, kho vận, thủ tục hải quan, thanh toán…. 11 2PL thường chỉ đảm nhận và đóng góp vào một khía cạnh nhỏ trong toàn bộ chuỗi logistics của khách hàng, thường là những hãng tàu hoặc những công ty vận tải đường bộ hay đường hàng không.2: So Sánh sự khác nhau giữa các mô hình - 3PL (Third Party Logistics – Cung cấp dịch vụ Logistics bên thứ ba) Có thể nói 3PL là hình thức phát triển một mức cao hơn và rộng hơn của 2PL.Sử dụng 3PL là việc thuê các công ty bên ngoài để thực hiện các hoạt động logistics, có thể là toàn bộ quá trình quản lí logistics hoặc một số hoạt động có chọn lọc. Các hoạt động mà bên cung cấp dịch vụ logistics thực hiện cho công ty khách hàng dựa trên hợp đồng bao gồm: kê khai hải quan, thông quan hàng hóa, các chứng từ giao nhận, vận chuyển, bốc dỡ hàng… để đảm bảo hàng hóa đến đúng nơi quy định.