đặt vấn đề ngay từ đầu phải đồng thời quan tâm đầu tƣ cho cả hai khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoặc là ông cũng đồng ý với quan điểm của Ricardo cho rằng một mô hình phát triển phải đƣợc bắt đầu từ hiệu suất nông nghiệp hoặc từ khả năng xuất khẩu sản phẩm công nghiệp để nhập khẩu lƣơng thực. Nhƣng Oshima cho rằng quan điểm của trƣờng phái tân cổ điển và hƣớng thứ 2 trong quan điểm của Ricardo là khó thực hiện đƣợc nếu không nói là thiếu thực tế trong điều kiện của các nƣớc đang phát triển. Oshima đã phân tích mối quan hệ của hai khu vực trong sự quá độ về cơ cấu từ nền kinh tế do nông nghiệp chiếm ƣu thế sang nền kinh tế công nghiệp. Học thuyết giá trị thặng dự của K.
Theo đuổi giá trị thặng dƣ là động lực cao nhất và không có giới hạn của từng nhà tƣ bản và cả nền sản xuất tƣ bản chủ nghĩa. Nó thúc đẩy các nhà tƣ bản tìm nơi đầu tƣ có lợi và thúc đẩy việc ứng dụng các thành tựu của tiến bộ khoa học công nghệ. Chính vì vậy, C.Mác đã khẳng định: “Sản xuất giá trị thặng dƣ hay lợi nhuận là quy luật tuyệt đối của phƣơng thức này”. Khi nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dƣ tƣơng đối ta thấy rõ nhờ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, tăng sức sản xuất của lao động trƣớc hết trong những ngành sản xuất ra tƣ liệu sản xuất để sản xuất ra tƣ liệu sinh hoạt, với độ dài ngày lao động không đổi, thời gian lao động tất yếu rút ngắn lại, thời gian lao động thặng dƣ tăng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 lên, nhờ đó tăng khối lƣợng giá trị thặng dƣ tƣơng đối, thậm chí còn có thể rút ngắn ngày lao động mà vẫn thu đƣợc khối lƣợng giá trị thặng dƣ nhiều hơn trƣớc.
Từ đó, đời sống của ngƣời lao động đƣợc cải thiện, nhƣng mức độ bóc lột lao động không công lại tăng hơn trƣớc.Mác cũng đã từng dự báo, khoa học sẽ trở thành lực lựơng sản xuất trực tiếp, nhờ khoa học kỹ thuật con ngƣời sẽ ngày càng đƣợc giải phóng khỏi những lĩnh vực trực tiếp sản xuất mà sẽ làm chức năng điều khiển quá trình sản xuất. Ở Việt Nam qua thực tiễn của hơn 20 năm đổi mới, cùng với sự phát triển của các thành phần kinh tế, tiềm lực kinh tế đất nƣớc không ngừng tăng lên, đời sống nhân dân đƣợc cải thiện đáng kể, đồng thuận xã hội tăng lên, an ninh chính trị ổn định, uy tín của nƣớc ta trên trƣờng quốc tế tăng cao, nhân dân ta ngày càng phấn khởi, tin tƣởng hơn vào đƣờng lối kinh tế của Đảng. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu và cơ hội thì những khó khăn, những nguy cơ và thách thức vẫn còn nhiều. Điều đó cho thấy cần phải quán triệt tốt hơn nữa tƣ tƣởng phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Lý thuyết các giai đoạn phát triển kinh tế của W.Rostow, còn đƣợc gọi là mô hình suy diễn lịch sử, đã chia tiến trình kinh tế thành năm gian đoạn: Giai đoạn xã hội truyền thống (nông nghiệp là nền tảng của nền kinh tế), giai đoạn chuẩn bị cất cánh (đã xuất hiện các khu vực kinh tế có tác dụng lôi kéo, thúc đẩy sự phát triển), giai đoạn cất cánh (tỷ lệ đầu tƣ tăng từ 5 đến 10% tổng sản phẩm quốc dân), giai đoạn hƣớng tới sự chín muồi kinh tế (tỷ lệ đầu tƣ cao, xuất hiện nhiều cực tăng trƣởng, làm thay đổi cơ cấu kinh tế), và giai đoạn kỷ nguyên tiêu dùng cao. Với cách phân chia này các nƣớc đang phát triển hiện nay ở vào giai đoạn 1 đến 3. Xã hội có trình độ phát triển còn thấp thì khu vực nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn về cơ cấu giá trị sản phẩm và cơ cấu lao động. Nhƣ vậy, có thể nói rằng hầu hết các lý thuyết của các nhà Kinh tế học trƣớc đây đều không thuần túy tập trung nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp, mà đều đặt nông nghiệp trong mối quan hệ với các ngành, các lĩnh vực khác, trƣớc hết là với công nghiệp.
Ngày nay, hơn bao giờ hết, phát triển nông nghiệp càng phải đặt trong mối quan hệ tổng thể với các lĩnh vực, các ngành khác nhƣ: xuất khẩu, du lịch, công LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 nghiệp, môi trƣờng. Do vậy khi nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp cũng phải nghiên cứu trong mối quan hệ tổng thể. Nông thôn mới là gì? Về NTM, các nhà nghiên cứu có nhiều tiếp cận khác nhau: tác giả Vũ Trọng Khải trong cuốn sách "Phát triển nông thôn Việt Nam: Từ làng xã truyền thống đến văn minh thời đại" cho rằng, NTM là nông thôn văn minh hiện đại nhƣng vẫn giữ đƣợc nét đẹp của truyền thống Việt Nam. Tô Văn Trƣờng cho rằng, NTM cũng phải giữ đƣợc tính truyền thống, những nét đặc trƣng nhất, bản sắc từng vùng, từng dân tộc và nâng cao giá trị đoàn kết của cộng đồng, mức sống của ngƣời dân.
Mô hình nông thôn tiên tiến phải đƣợc dựa trên nền tảng cơ bản là nông dân có tri thức. Họ phải có trình độ khoa học về thổ nhƣỡng, giống cây trồng, hóa học phân bón và thuốc trừ sâu, quản lý dịch bệnh, bảo quản sau thu hoạch, kinh tế nông nghiệp. Một số quan niệm khác cho rằng, NTM là nông thôn có kinh tế phát triển, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân đƣợc nâng cao, có quy hoạch, kết cấu hạ tầng hiện đại, môi trƣờng sinh thái trong lành, dân trí cao, giữ gìn đƣợc bản sắc văn hóa dân tộc, an ninh chính trị đƣợc giữ vững. Qua đó cho thấy, nhìn chung các học giả khá thống nhất khi khẳng định quan điểm về NTM đó là, nông thôn có kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đƣợc nâng cao, dân trí cao, bản sắc văn hóa dân tộc đƣợc gìn giữ và tái tạo.
Nghị quyết số 26- NQ/TW về nông nghiệp, nông thôn, nông dân xác định: NTM là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng KT - XH từng bƣớc hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ; an ninh trật tự đƣợc giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân ngày càng đƣợc nâng cao; theo định hƣớng XHCN. Nhƣ vậy, NTM là một trạng thái phát triển cao, toàn diện của xã hội nông thôn, kết hợp đầy đủ các khía cạnh từ kinh tế, sản xuất tới phát triển văn hóa, giáo dục, môi trƣờng, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và hệ thống chính trị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Vậy có sự khác biệt nào giữa NTM và nông thôn cũ ? Thực tế thì “mới” và “cũ” ở đây không phải là một trạng thái đối lập và tách biệt nhƣ bản thân thuật ngữ vốn ám chỉ. Sự phát triển từ nông thôn cũ sang NTM không phải là bƣớc nhảy từ trạng thái A sang trạng thái B hoàn toàn khác, mà là một quá trình tiến triển biện chứng từ A lên A+.
Các tiêu chí đề ra các ngƣỡng (biểu thị ở các thang đo ví dụ nhƣ tỷ lệ (%), đạt/không đạt, có/không có) mà ở đó một xã vƣơn lên từ nông thôn cũ và tiến lên NTM. Ví dụ, một xã cần đạt trung bình 70% tỷ lệ km đƣờng trục thôn, xóm đƣợc cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải thì đƣợc xét là đạt chuẩn một tiêu chí về giao thông. Vì vậy, mô hình NTM không phải đơn thuần là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, mà còn là kiểu nông thôn đƣợc xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt, thể hiện ở các tiêu chí nhƣ: Một là, NTM đáp ứng yêu cầu thị trƣờng hoá, CNH, HĐH, chuẩn bị những điều kiện vật chất, tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống, trở nên thịnh vƣợng ngay trên mảnh đất mà họ đã gắn bó lâu đời. Trƣớc hết, tạo cho ngƣời dân có điều kiện để chuyển đổi lối sống, canh tác tự cung tự cấp, thuần nông (cổ truyền) sang sản xuất hàng hoá, dịch vụ, du lịch và những ngành nghề khác.
Hai là, có khả năng khai thác hợp lý, nuôi dƣỡng các nguồn lực, đạt tăng trƣởng kinh tế cao, bền vững; môi trƣờng sinh thái đƣợc giữ gìn; tiềm năng du lịch đƣợc khai thác; làng nghề truyền thống, làng nghề tiểu thủ công nghiệp đƣợc khôi phục; ứng dụng công nghệ cao về quản lý, về sinh học.; cơ cấu kinh tế nông thôn phát triển hài hoà, hội nhập địa phƣơng, vùng, cả nƣớc và quốc tế. Ba là, nông dân, nông thôn có văn hoá phát triển, dân trí đƣợc nâng cao, sức lao động đƣợc giải phóng. Đó chính là sức mạnh nội sinh của làng, xã trong công cuộc xây dựng NTM. Ngƣời nông dân có cuộc sống ổn định, giàu có, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, tay nghề cao, lối sống văn minh hiện đại nhƣng vẫn giữ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 đƣợc những giá trị văn hoá, bản sắc truyền thống, tin tƣởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tham gia tích cực mọi phong trào chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… nhằm vừa tự hoàn thiện bản thân, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của bản thân cƣ dân ở nông thôn, vừa góp phần xây dựng nông thôn ngày càng văn minh, giàu đẹp.
Bốn là, đơn vị cơ bản của mô hình NTM là làng, xã. Làng, xã thực sự là một cộng đồng; trong đó, quản lý của Nhà nƣớc không can thiệp sâu vào đời sống nông thôn trên tinh thần tôn trọng tính tự quản của ngƣời dân thông qua hƣơng ƣớc, lệ làng (không trái với pháp luật của Nhà nƣớc). Quản lý của Nhà nƣớc và tự quản của nông dân, các giá trị truyền thống làng, xã đƣợc phát huy tối đa, tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tích cực, bảo đảm trạng thái cân bằng trong đời sống KT - XH ở nông thôn, giữ vững an ninh trật tự xã hội… nhằm hình thành môi trƣờng thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn. Năm là, dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất.