CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. NGHIÊN CỨU VỀ TỪ XƯNG HÔ TIẾNG VIỆT Từ xưng hô là một phân lớp quan trọng trong mỗi ngôn ngữ, lớp từ này đã thu hút sự nghiên cứu của rất nhiều nhà ngôn ngữ học. Từ xưng hô tiếng Việt đã được một số nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm. Bài nghiên cứu “Chinese Influence on Vietnamese Pronouns and Terms of Address and Reference” của Mark Alves (2017) [99] đánh giá khía cạnh từ vựng và xã hội học của hệ thống từ xưng hô tiếng Việt bao gồm đại từ xưng hô, danh từ thân tộc, tên riêng, danh từ chỉ nghề nghiệp, chức danh) dưới tác động của tiếng Trung Quốc từ thời kì Bắc thuộc cho tới thời tiền hiện đại.
Khoảng thời gian được nghiên cứu một phần dựa trên các tài liệu lịch sử và một phần dựa trên các mô hình ngữ âm Hán - Việt tồn tại trong tiếng Việt. Trong nghiên cứu “Vietnamese Terms of Address and Person - References: Ideological Change and Stability”, Chew Grace (2015) [85] đã dựa trên quan điểm lịch sử thực tế trong việc mô tả và so sánh sự phát triển đáng kinh ngạc về mặt ngữ nghĩa và chức năng của từ xưng hô tiếng Việt. Về mặt lí thuyết, nó biểu thị sự thay đổi về chức năng và ý nghĩa của các diễn ngôn, sự thay đổi đó xuất hiện là bởi ảnh hưởng của ý thức hệ, nó có thể phát triển hoặc suy giảm do bối cảnh rộng của chính trị, xã hội. Ở Việt Nam, có thể nói, vấn đề từ xưng hô trong tiếng Việt đã được các nhà ngôn ngữ học quan tâm từ rất sớm.
Lịch sử nghiên cứu từ xưng hô tiếng Việt đã trải qua hơn 350 năm kể từ những trang viết của Alexandre de Rhodes. Ngay từ năm 1651, trong cuốn “Từ điển Việt Nam - Bồ Đào Nha - Latinh”, Alexandre de Rhodes đã miêu tả các từ xưng hô tiếng Việt trong một vài trang. Các đại từ nhân xưng cũng như các danh từ thân tộc có chức năng xưng hô như: ông, bà, cậu, bác. đã được ông nhắc đến một cách sơ lược (Dẫn theo [24]).
Theo Nguyễn Phú Phong, “cho đến nay người đã cung cấp một bảng đại danh từ nhân xưng sớm nhất và đầy đủ nhất là Trương Vĩnh Ký trong cuốn “Grammare de la langue annamite”, 1884. Tác giả đã dành 30 trang để nói về đại từ nhân xưng (Dẫn theo [24, tr. Trần Trọng Kim trong cuốn “Việt Nam văn phạm” (1940) đã gọi lớp từ này là “đại danh từ”. 9 Emeneau trong công trình “Studies in Vietnamese Grammar” đã viết về đại từ xưng hô với 30 trang.
Ông cho rằng “Trong tiếng Việt rõ ràng là có các đại từ nhân xưng (đích thực) mà một bộ phận nghĩa của nó là nhằm chỉ rõ người nói và người nghe nhưng chúng cũng bị hạn chế rất nhiều trong khi xuất hiện về sự bày tỏ niềm kính trọng đối với người nghe. Những đại từ nhân xưng này chỉ giới hạn trong những hoàn cảnh không cần thiết phải có thái độ kính trọng, ví dụ khi người nói có một thái độ bề trên đối với người nghe hoặc trong những hoàn cảnh mà rất hiếm có là khi người nói và người nghe xem như hoàn toàn bình đẳng với nhau” [24, tr. Việc nghiên cứu từ xưng hô tiếng Việt có thể được chia thành hai giai đoạn gắn với các giai đoạn của lí thuyết ngôn ngữ: từ chủ nghĩa cấu trúc đến lí thuyết giao tiếp. Có khá nhiều công trình đã nghiên cứu về vấn đề xưng hô trong tiếng Việt.
Từ xưng hô được các nhà ngôn ngữ học miêu tả khi viết về từ loại tiếng Việt. Giai đoạn này, các nhà Việt ngữ học gọi các từ dùng để xưng hô là “đại từ nhân xưng”. Đó là ý kiến của các tác giả: Trần Trọng Kim, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Chiến, Lê Biên. Nguyễn Văn Chiến trong giai đoạn đầu nghiên cứu cho rằng các từ xưng hô lâm thời là từ loại đại từ: “Khác với hàng loạt ngôn ngữ Ấn Âu biến hình, hệ thống đại từ nhân xưng ngôn ngữ quốc gia Đông Nam Á thường là những hệ thống mở, không thuần nhất về chủng loại các yếu tố tạo thành.
Tính không thuần nhất này là hậu quả của một xu hướng ngôn ngữ chung, khá phổ biến trong khu vực: tiếp nhận những yếu tố phi đại từ, chủ yếu là những hệ thống từ loại lân cận, trên những “bậc”, những “trình độ tích hợp” khác nhau vào hệ thống đại từ” [18, tr. Trong cuốn “Từ loại tiếng Việt hiện đại” [8], khi phân chia hệ thống từ loại tiếng Việt, ở các tiểu loại đại từ, tác giả Lê Biên cho rằng tiểu loại đại từ quan trọng nhất là “đại từ xưng hô”. Những đại từ xưng hô trong tiếng Việt có thể được chia thành hai lớp: - Ở tiếng Việt, các đại từ xưng hô gốc, đích thực rất ít: “tao, ta, mày, nó, hắn” và chỉ xuất hiện ở những sắc thái biểu cảm không lịch sự (thân mật, thô tục, khinh thường). - Có nhiều yếu tố được đại từ hóa dùng để xưng hô như: + Những từ nguyên là danh từ đã trở thành đại từ thực sự: “tôi, tớ, mình hoặc còn dấu ấn danh từ khá rõ: chàng, nàng, thiếp, người, ngài, người ta.” 10 + Những danh từ lâm thời đảm nhận chức danh đại từ, đó là những danh từ chỉ người thuộc quan hệ gia tộc, thân thuộc như: “cụ, ông, bà, cha, mẹ, chú, bác, cậu, cô dì, mợ, thím”.
+ Các danh từ: “bạn, đồng chí” + Các danh từ chỉ học hàm, học vị, tước hiệu: “giáo sư, tiến sĩ, đại tướng” + Các tên riêng của người + Các đại từ chỉ định: “ấy, đấy, đây” + Một số từ có nguồn gốc vay mượn từ gốc Hán, gốc Pháp Tác giả Lê Biên cũng chú ý: “Những đại từ xưng hô gốc, thiếu từ biểu thị sắc thái biểu cảm lịch sự, do đó, hầu hết danh từ chỉ người trong quan hệ gia tộc, thân thuộc đều có thể dùng làm từ xưng hô để thể hiện sắc thái này” [8, tr. Trong cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến cũng cho rằng đại từ nhân xưng là một nhóm trong đại từ: “Đại từ bao gồm nhiều nhóm, cụ thể là đại từ nhân xưng, đại từ thay thế, đại từ chỉ định, đại từ chỉ lượng. Trong đó đại từ nhân xưng có tính chất của từ thực nhiều hơn. Giai đoạn nghiên cứu thứ hai gắn liền với thuật ngữ “từ xưng hô”.
Từ xưng hô trong tiếng Việt được nghiên cứu từ lí thuyết giao tiếp, xưng hô gắn với văn hóa giao tiếp của cộng đồng. Khái niệm từ xưng hô có ngoại diên rộng hơn đại từ nhân xưng. Vì ngoài đại từ nhân xưng thực thụ, từ xưng hô còn tiếp thu rất nhiều từ thuộc các từ lọai khác vào hệ thống để đảm nhiệm chức năng xưng hô. Từ xưng hô được nghiên cứu gắn với cách ứng xử và đặt trong chiều sâu văn hóa của mỗi dân tộc, vùng miền.
Người có công sức nghiên cứu sâu ở mảng từ xưng hô, trước hết phải kể đến Nguyễn Văn Chiến. Ông đã viết nhiều cuốn sách và bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí về từ xưng hô bằng phương pháp tiếp cận hệ thống. Ở bài viết “Bình diện xã hội của ngữ dụng học tương phản các từ xưng hô và các thành ngữ” [19], nhóm tác giả Nguyễn Văn Chiến, Nguyễn Xuân Hòa đã khẳng định “Tên gọi từ xưng hô cho thấy: chính bản thân thuật ngữ này không có “chỗ đứng” trong kí hiệu học cú học và nghĩa học. Đây không phải là những đơn vị thuần túy của hệ thống - cấu trúc ngôn ngữ.
Bằng chứng là sự tồn tại những ngôn ngữ, trong đó lớp từ xưng hô chứa đựng một tập hợp 11 các từ loại khác nhau, rất phong phú và đa dạng. Từ xưng hô chỉ có thể được định nghĩa trong hoạt động giao tiếp, trong mối quan hệ trực tiếp giữa những người giải thuyết kí hiệu và bản thân kí hiệu ngôn ngữ” [19, tr. Trong bài “Lớp từ xưng hô tiếng Việt trong lí thuyết và thực tế đối dịch với các ngôn ngữ khác” [22], Nguyễn Văn Chiến đã cho rằng nếu coi tiếng Việt là ngôn ngữ phiên dịch để chuyển dịch các ngôn ngữ khác qua nó thì lớp từ xưng hô của tiếng Việt là một hiện tượng đầy thú vị nhưng cũng gây ra rất nhiều chuyện rắc rối. Trong cuốn “Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á” [18], Nguyễn Văn Chiến đã phân tích đại từ nhân xưng tiếng Việt trong sự đối chiếu với đại từ nhân xưng của những ngôn ngữ khác, gần và cùng loại hình.
Tác giả đã đối chiếu hệ thống đại từ nhân xưng tiếng Việt trong sự phân tích tương phản với hệ thống đại từ nhân xưng tiếng Khơme và tiếng Lào. Trong bài viết “Danh từ thân tộc Việt trong hai loại hình ngôn ngữ đối chiếu: Khơme, Lào và Nga, Tiệp, Anh” [23], Nguyễn Văn Chiến định nghĩa danh từ thân tộc là những từ biểu thị khái niệm và quan hệ thân tộc gia đình. Tác giả đã đối chiếu danh từ thân tộc Việt trên các mặt nội dung, hình thức, số lượng, phẩm chất với những ngôn ngữ khác loại hình (tiếng Nga Tiệp - ngôn ngữ Slavơ biến hình, tổng hợp tính; tiếng Anh - ngôn ngữ Ấn Âu biến hình, phân tích tính), với những ngôn ngữ cùng loại hình (tiếng Khơme, Lào - ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính). Trong hướng nghiên cứu này, phải kể đến cuốn “Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt” của Nguyễn Văn Chiến [24].
Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu tiếp cận vốn từ vựng Việt ngữ một cách có hệ thống dưới ánh sáng của ngôn ngữ - văn hóa học. Trong cuốn sách, tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa. Ở chương 3, tác giả đã phân tích các danh từ chỉ quan hệ thân tộc và các từ xưng hô trong tiếng Việt. Theo Nguyễn Văn Chiến, trong các từ biểu thị cơ cấu và tổ chức xã hội người Việt, lớp từ có vị trí xứng đáng nhất, xét ở góc diện ngôn ngữ - văn hóa học phải là các từ chỉ quan hệ thân tộc và các từ xưng hô.
Đây là hai nhóm từ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tiêu biểu cho việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Số lượng các đại từ nhân xưng gốc, thực thụ rất ít, chỉ phân bố ở những sắc thái xưng hô biểu cảm không lịch sự nếu nhìn ở mặt cắt đồng đại. Vì thế, khi thể hiện thái độ xưng hô lịch sự, tiếng Việt phải mượn các đơn vị từ vựng thuộc nhiều lớp từ loại 12 khác nhau.