Dạy Học Từ Xưng Hô Tiếng Việt Cho Học Sinh Tiểu Học Dân Tộc Hmông

Khám phá phương pháp dạy học xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc H'Mông, giúp nâng cao khả năng giao tiếp và văn hóa.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

263
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.2.1. Đối tượng nghiên cứu

0.2.2. Phạm vi nghiên cứu

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3.1. Mục đích nghiên cứu

0.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.4.1. Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn

0.4.2. Phương pháp phỏng vấn sâu

0.4.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu

0.4.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

0.4.5. Phương pháp thống kê, xử lí số liệu

0.5. Giả thuyết khoa học

0.6. Dự kiến đóng góp của luận án

0.6.1. Về mặt lý luận

0.6.2. Về mặt thực tiễn

0.7. Kết cấu của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Nghiên cứu về từ xưng hô tiếng Việt

1.2. Cơ sở khoa học của việc dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông

1.2.1. Cơ sở lí luận của việc dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông

1.2.2. Tiếng Việt với học sinh tiểu học dân tộc Hmông

1.2.3. Dạy học từ xưng hô tiếng Việt dựa trên lí thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ hai

1.2.4. Từ xưng hô trong tiếng Việt và tiếng Hmông

1.3. Cơ sở thực tiễn của việc dạy học từ xưng hô tiếng Việt

1.3.1. Đặc điểm tâm lí, nhận thức của học sinh tiểu học Hmông

1.3.2. Dạy học từ xưng hô trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn

1.3.3. Thực trạng dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hmông

1.3.4. Thực trạng sử dụng từ xưng hô tiếng Việt của học sinh tiểu học Hmông

1.4. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC TỪ XƯNG HÔ TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC DÂN TỘC HMÔNG

2.1. Một số yêu cầu trong dạy học từ xưng hô tiếng Việt

2.2. Sử dụng một số phương pháp vào dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông

2.2.1. Phương pháp trực quan hành động (Total physical response)

2.2.2. Phương pháp đóng vai (Role play)

2.2.3. Phương pháp phân tích ngôn ngữ (Language analysis)

2.3. Xây dựng hệ thống bài tập dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông

2.3.1. Cấu trúc của hệ thống bài tập dạy học từ xưng hô tiếng Việt

2.3.2. Mô tả hệ thống bài tập

2.3.3. Vận dụng hệ thống bài tập vào thực tiễn dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông

2.4. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm

3.2. Đối tượng và thời gian thực nghiệm

3.2.1. Đối tượng thực nghiệm

3.2.2. Thời gian thực nghiệm

3.3. Nội dung và cách thức tiến hành thực nghiệm

3.3.1. Nội dung thực nghiệm

3.3.2. Cách thức tiến hành thực nghiệm

3.4. Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm

3.5. Phương pháp xử lí kết quả thực nghiệm

3.6. Đánh giá chung về quá trình thực nghiệm

3.7. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

4.1. Kết luận

4.2. Một số đề xuất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Dạy Học Từ Xưng Hô Tiếng Việt Cho HS Hmông

Từ xưng hô là một phần quan trọng của ngôn ngữ, thu hút nhiều nhà ngôn ngữ học. Trong văn hóa giao tiếp tiếng Việt, việc sử dụng từ xưng hô tiếng Việt góp phần quan trọng vào thành công của giao tiếp. Nguyễn Văn Khang nhận xét từ xưng hô tiếng Việt là "một hệ thống rất nhạy cảm và 'mở', phản ánh quan niệm truyền thống văn hóa". Với học sinh tiểu học dân tộc Hmông học tiếng Việt như NN2, từ xưng hô có thể coi là một thách thức. Khi học sinh biết sử dụng từ xưng hô, các em sẽ tự tin hơn trong giao tiếp. Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn hiện hành chú trọng phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt, tích hợp nội dung dạy học từ xưng hô qua các kỹ năng. Thực tế, học sinh tiểu học dân tộc Hmông sử dụng tiếng Việt, đặc biệt là từ xưng hô, còn nhiều lỗi. Điều này đòi hỏi biện pháp tác động đến việc dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc Hmông như NN2 để cải thiện hiệu quả dạy và học.

1.1. Nghiên Cứu Về Từ Xưng Hô Tiếng Việt Hiện Nay

Từ xưng hô tiếng Việt đã được một số nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm. Bài nghiên cứu “Chinese Influence on Vietnamese Pronouns and Terms of Address and Reference” của Mark Alves (2017) đánh giá khía cạnh từ vựng và xã hội học của hệ thống từ xưng hô tiếng Việt dưới tác động của tiếng Trung Quốc. Chew Grace (2015) đã dựa trên quan điểm lịch sử thực tế trong việc mô tả và so sánh sự phát triển đáng kinh ngạc về mặt ngữ nghĩa và chức năng của từ xưng hô tiếng Việt. Ở Việt Nam, vấn đề từ xưng hô trong tiếng Việt đã được các nhà ngôn ngữ học quan tâm từ rất sớm.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Từ Xưng Hô Trong Giao Tiếp

Trong văn hóa giao tiếp tiếng Việt, việc sử dụng từ xưng hô góp phần quan trọng quyết định thành công của cuộc giao tiếp. Nguyễn Văn Khang đã nhận xét từ xưng hô tiếng Việt là “một hệ thống rất nhạy cảm và “mở”, phản ánh quan niệm truyền thống văn hóa”. Đây là lớp từ khúc xạ đặc điểm văn hoá giao tiếp của người Việt một cách tinh tế, truyền tải tình cảm, thái độ, mức độ khinh - trọng, thân - sơ, quan hệ vai và thứ bậc giữa các nhân vật tham gia giao tiếp.

II. Cơ Sở Khoa Học Dạy Từ Xưng Hô Cho Học Sinh Dân Tộc

Việc dạy từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông cần dựa trên cơ sở khoa học vững chắc. Tiếng Việt đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các dân tộc cùng hòa nhập. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có công văn chỉ đạo cụ thể xác định nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số cấp tiểu học là nhiệm vụ trọng tâm. Cần xem xét đặc điểm tâm lý, nhận thức của học sinh tiểu học Hmông và thực trạng dạy học từ xưng hô trong chương trình giáo dục phổ thông. Điều này giúp xây dựng phương pháp dạy học phù hợp và hiệu quả.

2.1. Tiếng Việt Với Học Sinh Tiểu Học Dân Tộc Hmông

Tiếng Việt có nhiệm vụ quan trọng trong việc hỗ trợ các dân tộc cùng hoà nhập. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có công văn chỉ đạo cụ thể (số 7679/BGD&ĐT-GDTH ngày 22/8/2008; số 8114/BGD&ĐT-GDTH ngày 15/9/2009; số 145/TB-BGD&ĐT ngày 02/04/2010) xác định nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh DTTS cấp tiểu học là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng DTTS.

2.2. Đặc Điểm Tâm Lý Học Sinh Tiểu Học Hmông

Cần xem xét đặc điểm tâm lý, nhận thức của học sinh tiểu học Hmông và thực trạng dạy học từ xưng hô trong chương trình giáo dục phổ thông. Điều này giúp xây dựng phương pháp dạy học phù hợp và hiệu quả. Thực tế cho thấy HS tiểu học dân tộc Hmông sử dụng tiếng Việt, đặc biệt là từ xưng hô tiếng Việt còn mắc nhiều lỗi.

2.3. Sự Khác Biệt Ngôn Ngữ Hmông Và Tiếng Việt

Luận án so sánh, đối chiếu để chỉ ra sự đồng nhất và khác biệt cơ bản nhất giữa từ xưng hô, cách xưng hô trong tiếng Việt và trong tiếng Hmông. Từ đó, phát hiện và phòng ngừa những vấn đề có thể gây ra những lỗi chuyển di tiêu cực trong việc sử dụng từ xưng hô của HS tiểu học Hmông.

III. Phương Pháp Dạy Từ Xưng Hô Tiếng Việt Hiệu Quả Nhất

Để dạy từ xưng hô tiếng Việt hiệu quả cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông, cần sử dụng phương pháp phù hợp. Có thể áp dụng phương pháp trực quan hành động (Total physical response), phương pháp đóng vai (Role play), và phương pháp phân tích ngôn ngữ (Language analysis). Quan trọng là xây dựng hệ thống bài tập đa dạng, phù hợp với trình độ của học sinh. Cần tạo môi trường giao tiếp tiếng Việt phong phú để học sinh có cơ hội thực hành.

3.1. Phương Pháp Trực Quan Hành Động Total Physical Response

Phương pháp trực quan hành động (Total physical response) có thể giúp học sinh dễ dàng tiếp thu và ghi nhớ từ xưng hô thông qua các hoạt động thực tế. GV có thể sử dụng các trò chơi, bài hát, hoặc các tình huống giao tiếp đơn giản để học sinh thực hành.

3.2. Phương Pháp Đóng Vai Role Play Trong Dạy Học

Phương pháp đóng vai (Role play) giúp học sinh hiểu rõ hơn về cách sử dụng từ xưng hô trong các tình huống giao tiếp khác nhau. GV có thể tạo ra các tình huống giao tiếp quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày để học sinh thực hành.

3.3. Xây Dựng Hệ Thống Bài Tập Dạy Học Từ Xưng Hô

Cần xây dựng hệ thống bài tập đa dạng, phù hợp với trình độ của học sinh. Các bài tập nên tập trung vào việc rèn luyện kỹ năng sử dụng từ xưng hô trong các ngữ cảnh giao tiếp khác nhau. Cấu trúc của hệ thống bài tập dạy học từ xưng hô tiếng Việt cần được thiết kế khoa học và logic.

IV. Ứng Dụng Thực Tế Dạy Từ Xưng Hô Cho HS Tiểu Học Hmông

Việc ứng dụng các phương pháp và bài tập vào thực tế dạy học là rất quan trọng. Cần theo dõi và đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học dân tộc Hmông để điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp. Chia sẻ kinh nghiệm và tài liệu dạy học với các giáo viên khác để nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc.

4.1. Vận Dụng Bài Tập Vào Thực Tiễn Dạy Học

Vận dụng hệ thống bài tập vào thực tiễn dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông. Cần theo dõi và đánh giá kết quả học tập của học sinh để điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp.

4.2. Đánh Giá Hiệu Quả Phương Pháp Dạy Học

Tiến hành thực nghiệm để kiểm tra phân tích, qua đó đánh giá tính khả thi của các phương pháp dạy học và hệ thống BT dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho HS tiểu học dân tộc Hmông mà luận án đề xuất.

V. Thực Nghiệm Sư Phạm Đánh Giá Hiệu Quả Dạy Học

Thực nghiệm sư phạm là bước quan trọng để đánh giá hiệu quả của các phương pháp và bài tập đã đề xuất. Cần xác định rõ mục đích, đối tượng, thời gian và nội dung thực nghiệm. Sử dụng các tiêu chí đánh giá khách quan và phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm khoa học để đưa ra kết luận chính xác.

5.1. Mục Đích Của Thực Nghiệm Sư Phạm

Luận án tiến hành thực nghiệm để kiểm tra phân tích, qua đó đánh giá tính khả thi của các phương pháp dạy học và hệ thống BT dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho HS tiểu học dân tộc Hmông mà luận án đề xuất.

5.2. Đối Tượng Và Thời Gian Thực Nghiệm

Chúng tôi tiến hành TN ở 03 trường tiểu học bán trú ở huyện Mương Nhé, tỉnh Điện Biên bằng TN đối chứng để kiểm tra giả thuyết khoa học của đề tài. Từ đó, chúng tôi đưa ra kết luận sư phạm về việc tổ chức dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho HS tiểu học dân tộc Hmông.

VI. Kết Luận Đề Xuất Về Dạy Từ Xưng Hô Tiếng Việt

Việc dạy từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông là một quá trình lâu dài và cần sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp dạy học mới, phù hợp với đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ của học sinh dân tộc. Đề xuất các chính sách hỗ trợ giáo viên và học sinh vùng dân tộc thiểu số để nâng cao chất lượng giáo dục.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Sự Phối Hợp

Việc dạy từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông là một quá trình lâu dài và cần sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.

6.2. Đề Xuất Chính Sách Hỗ Trợ Giáo Dục

Đề xuất các chính sách hỗ trợ giáo viên và học sinh vùng dân tộc thiểu số để nâng cao chất lượng giáo dục. Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp dạy học mới, phù hợp với đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ của học sinh dân tộc.

05/06/2025
Dạy học từ xưng hô tiếng việt cho học sinh tiểu học dân tộc hmông

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. NGHIÊN CỨU VỀ TỪ XƯNG HÔ TIẾNG VIỆT Từ xưng hô là một phân lớp quan trọng trong mỗi ngôn ngữ, lớp từ này đã thu hút sự nghiên cứu của rất nhiều nhà ngôn ngữ học. Từ xưng hô tiếng Việt đã được một số nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm. Bài nghiên cứu “Chinese Influence on Vietnamese Pronouns and Terms of Address and Reference” của Mark Alves (2017) [99] đánh giá khía cạnh từ vựng và xã hội học của hệ thống từ xưng hô tiếng Việt bao gồm đại từ xưng hô, danh từ thân tộc, tên riêng, danh từ chỉ nghề nghiệp, chức danh) dưới tác động của tiếng Trung Quốc từ thời kì Bắc thuộc cho tới thời tiền hiện đại.

Khoảng thời gian được nghiên cứu một phần dựa trên các tài liệu lịch sử và một phần dựa trên các mô hình ngữ âm Hán - Việt tồn tại trong tiếng Việt. Trong nghiên cứu “Vietnamese Terms of Address and Person - References: Ideological Change and Stability”, Chew Grace (2015) [85] đã dựa trên quan điểm lịch sử thực tế trong việc mô tả và so sánh sự phát triển đáng kinh ngạc về mặt ngữ nghĩa và chức năng của từ xưng hô tiếng Việt. Về mặt lí thuyết, nó biểu thị sự thay đổi về chức năng và ý nghĩa của các diễn ngôn, sự thay đổi đó xuất hiện là bởi ảnh hưởng của ý thức hệ, nó có thể phát triển hoặc suy giảm do bối cảnh rộng của chính trị, xã hội. Ở Việt Nam, có thể nói, vấn đề từ xưng hô trong tiếng Việt đã được các nhà ngôn ngữ học quan tâm từ rất sớm.

Lịch sử nghiên cứu từ xưng hô tiếng Việt đã trải qua hơn 350 năm kể từ những trang viết của Alexandre de Rhodes. Ngay từ năm 1651, trong cuốn “Từ điển Việt Nam - Bồ Đào Nha - Latinh”, Alexandre de Rhodes đã miêu tả các từ xưng hô tiếng Việt trong một vài trang. Các đại từ nhân xưng cũng như các danh từ thân tộc có chức năng xưng hô như: ông, bà, cậu, bác. đã được ông nhắc đến một cách sơ lược (Dẫn theo [24]).

Theo Nguyễn Phú Phong, “cho đến nay người đã cung cấp một bảng đại danh từ nhân xưng sớm nhất và đầy đủ nhất là Trương Vĩnh Ký trong cuốn “Grammare de la langue annamite”, 1884. Tác giả đã dành 30 trang để nói về đại từ nhân xưng (Dẫn theo [24, tr. Trần Trọng Kim trong cuốn “Việt Nam văn phạm” (1940) đã gọi lớp từ này là “đại danh từ”. 9 Emeneau trong công trình “Studies in Vietnamese Grammar” đã viết về đại từ xưng hô với 30 trang.

Ông cho rằng “Trong tiếng Việt rõ ràng là có các đại từ nhân xưng (đích thực) mà một bộ phận nghĩa của nó là nhằm chỉ rõ người nói và người nghe nhưng chúng cũng bị hạn chế rất nhiều trong khi xuất hiện về sự bày tỏ niềm kính trọng đối với người nghe. Những đại từ nhân xưng này chỉ giới hạn trong những hoàn cảnh không cần thiết phải có thái độ kính trọng, ví dụ khi người nói có một thái độ bề trên đối với người nghe hoặc trong những hoàn cảnh mà rất hiếm có là khi người nói và người nghe xem như hoàn toàn bình đẳng với nhau” [24, tr. Việc nghiên cứu từ xưng hô tiếng Việt có thể được chia thành hai giai đoạn gắn với các giai đoạn của lí thuyết ngôn ngữ: từ chủ nghĩa cấu trúc đến lí thuyết giao tiếp. Có khá nhiều công trình đã nghiên cứu về vấn đề xưng hô trong tiếng Việt.

Từ xưng hô được các nhà ngôn ngữ học miêu tả khi viết về từ loại tiếng Việt. Giai đoạn này, các nhà Việt ngữ học gọi các từ dùng để xưng hô là “đại từ nhân xưng”. Đó là ý kiến của các tác giả: Trần Trọng Kim, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Chiến, Lê Biên. Nguyễn Văn Chiến trong giai đoạn đầu nghiên cứu cho rằng các từ xưng hô lâm thời là từ loại đại từ: “Khác với hàng loạt ngôn ngữ Ấn Âu biến hình, hệ thống đại từ nhân xưng ngôn ngữ quốc gia Đông Nam Á thường là những hệ thống mở, không thuần nhất về chủng loại các yếu tố tạo thành.

Tính không thuần nhất này là hậu quả của một xu hướng ngôn ngữ chung, khá phổ biến trong khu vực: tiếp nhận những yếu tố phi đại từ, chủ yếu là những hệ thống từ loại lân cận, trên những “bậc”, những “trình độ tích hợp” khác nhau vào hệ thống đại từ” [18, tr. Trong cuốn “Từ loại tiếng Việt hiện đại” [8], khi phân chia hệ thống từ loại tiếng Việt, ở các tiểu loại đại từ, tác giả Lê Biên cho rằng tiểu loại đại từ quan trọng nhất là “đại từ xưng hô”. Những đại từ xưng hô trong tiếng Việt có thể được chia thành hai lớp: - Ở tiếng Việt, các đại từ xưng hô gốc, đích thực rất ít: “tao, ta, mày, nó, hắn” và chỉ xuất hiện ở những sắc thái biểu cảm không lịch sự (thân mật, thô tục, khinh thường). - Có nhiều yếu tố được đại từ hóa dùng để xưng hô như: + Những từ nguyên là danh từ đã trở thành đại từ thực sự: “tôi, tớ, mình hoặc còn dấu ấn danh từ khá rõ: chàng, nàng, thiếp, người, ngài, người ta.” 10 + Những danh từ lâm thời đảm nhận chức danh đại từ, đó là những danh từ chỉ người thuộc quan hệ gia tộc, thân thuộc như: “cụ, ông, bà, cha, mẹ, chú, bác, cậu, cô dì, mợ, thím”.

+ Các danh từ: “bạn, đồng chí” + Các danh từ chỉ học hàm, học vị, tước hiệu: “giáo sư, tiến sĩ, đại tướng” + Các tên riêng của người + Các đại từ chỉ định: “ấy, đấy, đây” + Một số từ có nguồn gốc vay mượn từ gốc Hán, gốc Pháp Tác giả Lê Biên cũng chú ý: “Những đại từ xưng hô gốc, thiếu từ biểu thị sắc thái biểu cảm lịch sự, do đó, hầu hết danh từ chỉ người trong quan hệ gia tộc, thân thuộc đều có thể dùng làm từ xưng hô để thể hiện sắc thái này” [8, tr. Trong cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến cũng cho rằng đại từ nhân xưng là một nhóm trong đại từ: “Đại từ bao gồm nhiều nhóm, cụ thể là đại từ nhân xưng, đại từ thay thế, đại từ chỉ định, đại từ chỉ lượng. Trong đó đại từ nhân xưng có tính chất của từ thực nhiều hơn. Giai đoạn nghiên cứu thứ hai gắn liền với thuật ngữ “từ xưng hô”.

Từ xưng hô trong tiếng Việt được nghiên cứu từ lí thuyết giao tiếp, xưng hô gắn với văn hóa giao tiếp của cộng đồng. Khái niệm từ xưng hô có ngoại diên rộng hơn đại từ nhân xưng. Vì ngoài đại từ nhân xưng thực thụ, từ xưng hô còn tiếp thu rất nhiều từ thuộc các từ lọai khác vào hệ thống để đảm nhiệm chức năng xưng hô. Từ xưng hô được nghiên cứu gắn với cách ứng xử và đặt trong chiều sâu văn hóa của mỗi dân tộc, vùng miền.

Người có công sức nghiên cứu sâu ở mảng từ xưng hô, trước hết phải kể đến Nguyễn Văn Chiến. Ông đã viết nhiều cuốn sách và bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí về từ xưng hô bằng phương pháp tiếp cận hệ thống. Ở bài viết “Bình diện xã hội của ngữ dụng học tương phản các từ xưng hô và các thành ngữ” [19], nhóm tác giả Nguyễn Văn Chiến, Nguyễn Xuân Hòa đã khẳng định “Tên gọi từ xưng hô cho thấy: chính bản thân thuật ngữ này không có “chỗ đứng” trong kí hiệu học cú học và nghĩa học. Đây không phải là những đơn vị thuần túy của hệ thống - cấu trúc ngôn ngữ.

Bằng chứng là sự tồn tại những ngôn ngữ, trong đó lớp từ xưng hô chứa đựng một tập hợp 11 các từ loại khác nhau, rất phong phú và đa dạng. Từ xưng hô chỉ có thể được định nghĩa trong hoạt động giao tiếp, trong mối quan hệ trực tiếp giữa những người giải thuyết kí hiệu và bản thân kí hiệu ngôn ngữ” [19, tr. Trong bài “Lớp từ xưng hô tiếng Việt trong lí thuyết và thực tế đối dịch với các ngôn ngữ khác” [22], Nguyễn Văn Chiến đã cho rằng nếu coi tiếng Việt là ngôn ngữ phiên dịch để chuyển dịch các ngôn ngữ khác qua nó thì lớp từ xưng hô của tiếng Việt là một hiện tượng đầy thú vị nhưng cũng gây ra rất nhiều chuyện rắc rối. Trong cuốn “Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á” [18], Nguyễn Văn Chiến đã phân tích đại từ nhân xưng tiếng Việt trong sự đối chiếu với đại từ nhân xưng của những ngôn ngữ khác, gần và cùng loại hình.

Tác giả đã đối chiếu hệ thống đại từ nhân xưng tiếng Việt trong sự phân tích tương phản với hệ thống đại từ nhân xưng tiếng Khơme và tiếng Lào. Trong bài viết “Danh từ thân tộc Việt trong hai loại hình ngôn ngữ đối chiếu: Khơme, Lào và Nga, Tiệp, Anh” [23], Nguyễn Văn Chiến định nghĩa danh từ thân tộc là những từ biểu thị khái niệm và quan hệ thân tộc gia đình. Tác giả đã đối chiếu danh từ thân tộc Việt trên các mặt nội dung, hình thức, số lượng, phẩm chất với những ngôn ngữ khác loại hình (tiếng Nga Tiệp - ngôn ngữ Slavơ biến hình, tổng hợp tính; tiếng Anh - ngôn ngữ Ấn Âu biến hình, phân tích tính), với những ngôn ngữ cùng loại hình (tiếng Khơme, Lào - ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính). Trong hướng nghiên cứu này, phải kể đến cuốn “Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt” của Nguyễn Văn Chiến [24].

Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu tiếp cận vốn từ vựng Việt ngữ một cách có hệ thống dưới ánh sáng của ngôn ngữ - văn hóa học. Trong cuốn sách, tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa. Ở chương 3, tác giả đã phân tích các danh từ chỉ quan hệ thân tộc và các từ xưng hô trong tiếng Việt. Theo Nguyễn Văn Chiến, trong các từ biểu thị cơ cấu và tổ chức xã hội người Việt, lớp từ có vị trí xứng đáng nhất, xét ở góc diện ngôn ngữ - văn hóa học phải là các từ chỉ quan hệ thân tộc và các từ xưng hô.

Đây là hai nhóm từ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tiêu biểu cho việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Số lượng các đại từ nhân xưng gốc, thực thụ rất ít, chỉ phân bố ở những sắc thái xưng hô biểu cảm không lịch sự nếu nhìn ở mặt cắt đồng đại. Vì thế, khi thể hiện thái độ xưng hô lịch sự, tiếng Việt phải mượn các đơn vị từ vựng thuộc nhiều lớp từ loại 12 khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Dạy Học Từ Xưng Hô Tiếng Việt Cho Học Sinh Tiểu Học Dân Tộc Hmông" tập trung vào việc phát triển kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh dân tộc Hmông thông qua việc dạy từ xưng hô trong tiếng Việt. Tài liệu này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về cách sử dụng từ xưng hô trong giao tiếp hàng ngày mà còn góp phần nâng cao khả năng giao tiếp và sự tự tin của các em trong môi trường học tập.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp dạy học và phát triển năng lực cho học sinh, bạn có thể tham khảo tài liệu Dạy học luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp, nơi cung cấp những phương pháp hữu ích trong việc nâng cao kỹ năng giao tiếp cho học sinh. Ngoài ra, tài liệu Quản lý dạy học môn ngữ văn trường trung học cơ sở cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách thức quản lý và phát triển năng lực học sinh trong môn học này. Cuối cùng, tài liệu Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua bài tập sáng tạo trong dạy học sẽ mang đến những ý tưởng mới mẻ trong việc khuyến khích tư duy sáng tạo của học sinh. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các phương pháp dạy học hiệu quả.