CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Vấn đề phát hiện và bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho người lao động nói chung và cho học sinh phổ thông nói riêng là mối quan tâm chung của toàn xã hội. Đã có nhiều sách được xuất bản, đề tài nghiên cứu, tham luận, báo cáo khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về việc phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông qua nhiều phương pháp và chủ đề khác nhau. Thế kỉ XX từ những năm 50 của đã có nhiều công trình nghiên cứu về sáng tạo trên thế giới.
Các nghiên cứu tập trung vào các vấn đề như: những tiêu chuẩn cơ bản của hoạt động sáng tạo, bản chất của sáng tạo, phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực sáng tạo, kích thích hoạt động sáng tạo… của nhiều tác giả lớn như Barron (1952, 1955, 1981, 1995), Guilford J. (1950, 1956, 1967, 1979), Torrance (1962, 1963, 1965, 1975),… Các nhà tâm lí học Liên Xô (cũ), Tiếp Khắc, Ba Lan, Đức… cũng có nhiều nghiên cứu về vấn đề sáng tạo cả về mặt lí luận và thực nghiệm. Cũng phải kể đến tác phẩm Sáng tạo toán học của nhà giáo, nhà toán học kiêm tâm lí học Polya G. đã nghiên cứu bản chất của quá trình giải toán, quá trình sáng tạo toán học dưới một hình thức hấp dẫn và sinh động.
Polya đã phân tích quá trình giải toán không tách rời quá trình dạy giải toán [15]. Do đó, cuốn sách đã đáp ứng được yêu nâng cao chất lượng giảng dạy môn toán ở trường phổ thông mà một trong những nhiệm vụ quan trọng là dạy học tư duy sáng tạo. Trong nước cũng có nhiều công trình nghiên cứu về tư duy sáng tạo của các tác giả lớn như Hoàng Chúng (1964), Nguyễn Cảnh Toàn (2003, 2004), Nguyễn Huy Tú (1996. 2006), Đức Uy (1999), Phạm Văn Hoàn (1969), Phan Dũng (1992, 1994, 2002…), Tôn Thân (1995, 1996)… 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, có thể thấy rằng, vấn đề sáng tạo và tư duy sáng tạo là một vấn đề đang được quan tâm và nghiên cứu sâu rộng, phổ biến cả trong và ngoài nước do tầm quan trọng và tính thực tiễn của vấn đề.
Cần tiếp tục có những nghiên cứu về sáng tạo nói chung, tư duy sáng tạo nói riêng để đáp ứng đòi hỏi cấp thiết của giáo dục là đào tạo thế hệ trẻ năng động sáng tạo. Xê mi ne là một hình thức tổ chức cơ bản ở bậc cao đẳng, đại học và được sử dụng rộng rãi ở các môn tự nhiên cũng như xã hội. Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi cũng nhận thấy rằng, các giảng viên đại học, cao đẳng đã tổ chức xê mi ne trong giảng dạy và đúc kết được nhiều kinh nghiệm được thể hiện trong một số luận văn, bài tham luận, báo cáo khoa học sau: - ThS Vũ Thụy Hùng , “Tổ chức dạy học thuyết vật lí bằng hình thức xê mi ne”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 2/2000. - ThS Ngô Xuân Dậu, “Xeminar cần thiết cho đổi mới phương pháp dạy và học ở đại học”, tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp số 5/2000.
- ThS Nguyễn Chiến Thắng (2008), “Tổ chức xê mi ne cho sinh viên sư phạm ngành Toán thông qua dạy học môn hình học sơ cấp ở bậc đại học”, khoa Toán – Đại học Vinh. - TS Nguyễn Thị Thu Thủy (2009), “Tổ chức xê mi ne – một biện pháp nâng cao chất lượng dạy, học cho sinh viên ngành sư phạm vật lý”, trường đại học Cần Thơ. - ThS Vũ Thị Ngọc Mai (2011), “Tổ chức xê mi ne trong dạy học môn Hóa đại cương ở trường cao đẳng kĩ thuật Cao Thắng Tp. Hồ Chí Minh”, trường cao đẳng kĩ thuật Cao Thắng.
Tuy nhiên, việc sử dụng hình thức tổ chức xê mi ne trong dạy học phổ thông thì không được áp dụng nhiều do tính chất công phu của quy trình tổ chức và đòi hỏi cao về tinh thần tự giác, sự ham hiểu biết, tìm tòi, sáng tạo của người học và do thời lượng cho môn học ở phổ thông còn hạn hẹp, không linh 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hình thức này ở các nước có nền giáo dục phát triển như Mỹ, Pháp, Úc… không còn mới mẻ, nhưng đối với nước đang phát triển như Việt Nam thì mới là bước đầu. Ưu điểm của hình thức học tập này là học sinh được đóng vai trò trung tâm trong hoạt động dạy học, phù hợp với định hướng đổi mới phương pháp dạy học đang hướng tới ở giáo dục phổ thông hiện nay. Do đó, đề tài nghiên cứu về việc dạy học tư duy sáng tạo cho học sinh chuyên Toán thông qua tổ chức xê mi ne còn khá mới mẻ, có thể xem là một hướng đi có giá trị của luận văn.
Dạy học tư duy sáng tạo 1. Khái niệm tư duy Tư duy nói chung, tư duy sáng tạo nói riêng có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của nhận thức và nền văn minh nhân loại. Con đường của nhận thức theo V. Lê nin là “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”.
Khổng Tử đã nhấn mạnh, trong dạy học cần tuân thủ: học đi đôi với tư (tư duy), với tập, với hành. Có thể thấy tư duy tạo nên sự khác biệt giữa con người và các loài sinh vật khác cùng sinh sống trên hành tinh này. Theo quan điểm tâm lí học, nhiều tài liệu đã chỉ ra rằng: “Tư duy là quá trình nhận thức, phản ảnh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng bằng những hình thức như cảm giác, tri giác, biểu tượng, khái niệm, phán đoán, suy luận” [17]. Tư duy mang tính chất khái quát, tính gián tiếp và tính trừu tượng, được nảy sinh từ nhu cầu thực tiễn.
Thực tiễn cũng là tiêu chuẩn để kiểm tra tính đúng đắn của tư duy. Quá trình tư duy là một quá trình vừa mang tính sinh lí thần kinh học, vừa là một quá trình mang tính trí tuệ đồng thời mang tính cảm xúc. Nhờ có tư duy, con người nhận thức được thế giới hiện thực khách quan của tự nhiên, xã hội, vận dụng những quy luật đó vào thực tiễn cuộc sống của con người để xây dựng nền văn minh nhân loại rực rỡ như ngày nay. Platonov, quá trình tư duy được thể hiện qua sơ đồ sau: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Platonov về quá trình tư duy [17] 1. Khái niệm tư duy sáng tạo Tư duy sáng tạo là kết quả tương tác của các quá trình khám phá, tưởng tượng và tư duy dưới tác động của động cơ và cảm xúc cá nhân. Trong [10], các tác giả đã chỉ rõ: “Tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập, tạo ra ý tưởng mới độc đáo và có hiệu quả vấn đề cao. Ý tưởng mới thể hiện ở chỗ phát hiện cái mới, tìm ra hướng đi mới, tạo ra kết quả mới.
Tính độc đáo của ý tưởng mới thể hiện ở giải pháp lạ, hiếm, không quen thuộc hoặc duy nhất”. Để tạo ra được cái mới thực sự, con người cần thực hiện bước nhảy tư duy, suy đoán, thoát ra khỏi hệ thống cũ để có thể quay lại khắc phục lỗi của chính hệ thống đó. Tuy nhiên, cái mới, cái độc đáo mang tính chất tương đối vì có thể với người này là sáng tạo nhưng lại là điều quen thuộc với người khác, 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoặc cùng một chủ thể tư duy nhưng trong điều kiện hoàn cảnh này thì vấn đề được coi là mới lạ, độc đáo, có hiệu quả, còn trong trường hợp khác thì không. Tư duy sáng tạo có tính độc lập và tính tích cực, tuy nhiên, không phải cứ tư duy độc lập và tư duy tích cực là tư duy sáng tạo.
Có thể nói, tư duy tích cực là tiền đề của tư duy độc lập và đó là nền tảng của tư duy sáng tạo. Tư duy tích cực đối với chủ thể nhận thức được biểu hiện qua sự cố gắng về mặt trí tuệ và nghị lực. Tư duy độc lập được đặc trưng bởi khả năng tự phát hiện vấn đề và giải quyết được vấn đề, tự kiểm tra và hoàn thiện kết quả đạt được. Trong dạy học tư duy, A.
Krutexki đã chỉ ra mối quan hệ giữa ba dạng mức độ tư duy [11]: Sơ đồ 1. Ba vòng tròn đồng tâm tư duy của Krutexki, A. (1973) Tư duy sáng tạo Tư duy độc lập Tư duy Trong đó:tích cực - Mức độ tư duy tích cực: học sinh chăm chú lắng nghe, cố gắng hiểu, tham gia nhiệt tình vào bài giảng. - Mức độ tư duy độc lập: học sinh tự đọc, tự chứng minh các vấn đề được thầy nêu ra.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Mức độ tư duy sáng tạo: học sinh tự khám phá và nêu ra vấn đề. Bước đầu có thể theo được định hướng của thầy. Như vậy, có thể hiểu rằng, tư duy sáng tạo là cách suy nghĩ độc lập, có khuynh hướng tạo ra các ý tưởng, cách giải quyết vấn đề mới, độc đáo và đạt hiệu quả giải quyết vấn đề. Biểu hiện của tư duy sáng tạo Về mặt tâm lí học, biểu hiện đặc trưng của hoạt động sáng tạo có thể bao gồm: - Vận dụng các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đã có và được rèn luyện vào tình huống mới.
- Phát hiện cấu trúc mới, chức năng mới của các đối tượng quen thuộc. - Nhận thấy nội dung mới trong các tình huống bình thường. - Độc lập kết hợp các phương thức hoạt động đã biết, tạo thành cái mới. - Nhận thấy nhiều cách giải quyết cho một vấn đề cụ thể, lựa chọn được cách giải quyết tối ưu.
- Đưa ra được phương pháp mới về nguyên tắc, khác lạ, độc đáo so với những phương pháp đã biết, quen thuộc. Tư duy sáng tạo nói chung và tư duy sáng tạo trong toán học nói riêng gồm các đặc điểm sau: - Tính mềm dẻo (Flexibility): + Dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, + Suy nghĩ không máy móc, rập khuôn, + Phát hiện được vấn đề mới trong các điều kiện quen thuộc. - Tính nhuần nhuyễn (Fluency): + Xem xét đối tượng qua nhiều khía cạnh, trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, + Tìm được nhiều giải pháp khác nhau, có thể có giải pháp mới mẻ. - Tính độc đáo (Originality): 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Tìm ra những liên tưởng và những kết hợp mới, + Nhìn ra những mối liên hệ trong sự kiện bên ngoài tưởng như không có gì liên hệ với nhau.