Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học ở tiểu học dựa vào PCHT của HS. Quy trình dạy học ở tiểu học dựa vào PCHT của học sinh Chương 3. Thực nghiệm sư phạm 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC DỰA VÀO PHONG CÁCH HỌC TẬP CỦA HỌC SINH 1.
Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Nghiên cứu về phong cách học tập a) Trên thế giới - Nghiên cứu về phong cách học tập: Thuật ngữ “phong cách học tập (learning style) mới xuất hiện vào những năm 50 của thế kỉ XX khi mà Thelen (1950) [74] sử dụng nó trong việc xác định điều kiện tổ chức hoạt động thảo luận nhóm. Tuy nhiên, những nghiên cứu ban đầu liên quan đến PCHT đã được đề cập vào đầu thế kỉ XX. Năm 1904, Alfred Binet, một nhà tâm lý học Pháp, phát triển các bài kiểm tra trí thông minh đầu tiên đã rất quan tâm đến khác biệt cá nhân.
Năm 1907, tiến sĩ Maria Montessori là người đã tiếp tục nghiên cứu về PCHT, cũng là người phát minh ra phương pháp Montessori của giáo dục, bắt đầu sử dụng các vật liệu để nâng cao PCHT của các HS của mình. Carl Jung (1927) là người đầu tiên nêu ra lý thuyết học tập theo phong cách. Ông nhận thấy sự khác biệt lớn trong cách mọi người cảm nhận (cảm giác so với trực giác), cách họ thực hiện các quyết định (tư duy, cảm xúc so với trí tưởng tượng), và làm thế nào hoạt động hoặc phản chiếu trong khi họ tương tác (hướng ngoại so với hướng nội). Isabel Myers và Katherine Briggs (1977), người đã xây dựng hệ thống lí thuyết Myers-Briggs Type Indicator và thành lập Hiệp hội các loại tâm lý, áp dụng lí thuyết của Jung và cũng chịu ảnh hưởng của các thế hệ nghiên cứu đi trước cố gắng tìm hiểu sự khác biệt cụ thể trong học tập của con người.
Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này bao gồm Anthony Gregorc (1985), 11 Kathleen Butler (1984), Liêu Bích Nhi, McCarthy (1982), và Harvey và J. Mặc dù các nhà nghiên cứu về lý thuyết PCHT có nhiều cách giải thích khác nhau tuy nhiên tất cả các mô hình có hai điểm chung: Tập trung vào quá trình: mô hình PCHT có xu hướng liên quan đến những quá trình học tập: làm thế nào cá nhân tiếp thu, xử lý thông tin, đánh giá kết quả. Nhấn mạnh vào cá tính: Các nhà nghiên cứu về lý thuyết PCHT cho rằng quá trình học tập của HS liên quan đến tư tưởng, cảm giác, tình cảm của cá nhân người học. Những năm sau đó, ít xuất hiện các nghiên cứu về PCHT.
Cho đến tận năm 1956, Benjamin Bloom phát triển một hệ thống gọi là bảng phân loại tư duy của Bloom thì việc xác định PCHT mới đạt được bước tiến mới. Tiếp theo Benjamin Bloom, Dun and Dun cũng nghiên cứu về PCHT vào năm 1976, ông đã thiết kế được công cụ để đánh giá PCHT của HS. Từ những năm 1980 cho đến ngày nay, các mô hình khác nhau về PCHT đã được công bố và phát triển dựa trên cơ sở những khám phá trước đó. Theo tổng hợp của Ken Dunn and Rita Dunn [51], đến năm 2006, có khoảng 650 đầu sách về PCHT xuất bản tại Mỹ và Canada, 4500 bài báo đăng trên các ấn phẩm khoa học về nội dung này và hơn 26000 trang mạng internet đang hoạt động nhằm đo lường và phân loại PCHT.
Những tên tuổi nổi tiếng trong lĩnh vực này như Ken Dunn, Rita Dunn, Gregorc, Kolb, Myers-Briggs, Peter Honey, Guiford,… Marlene D.Lefer đã xuất bản tài liệu “Phong cách học tập” (1995). Trong tài liệu này, Marlene đã giúp cho độc giả hiểu rõ về PCHT. Bên cạnh đó, tác giả đưa ra bốn PCHT (học thiên về hình ảnh, học thiên về phân tích, 12 học theo cảm giác thông thường, cách học năng động) từ đó đưa ra các chỉ dẫn chung về biện pháp dạy học phù hợp cho từng PCHT kể trên [54]. - Nghiên cứu về phân loại phong cách học tập: Cũng có nhiều nghiên cứu hướng đến việc phân loại PCHT.
Trong đó, nổi bật là nghiên cứu của Coffield [43, tr9]. Theo nghiên cứu của tác giả, hiện nay có 71 mô hình PCHT được xây dựng và công bố. PCHT có thể phân loại thành 5 nhóm như sau: PCHT dựa vào giác quan - liên quan đến yếu tố gen - môi trường (bao gồm 4 thể thức nhìn, nghe, vận động, sờ); PCHT phản ánh các đặc điểm bên trong của cấu trúc nhận thức; PCHT phản ánh các kiểu nhân cách bền vững; PCHT là các ưu thế linh hoạt trong học tập; PCHT là các chiến lược, cách tiếp cận học tập. Nghiên cứu của Cynthia Ulrich Tobias thể hiện trong tác phẩm Mỗi đứa trẻ một cách học [8].
Bà đã giới thiệu năm mô hình phong cách học khác nhau dựa vào các yếu tố cụ thể: phương pháp của trí não (Gregorc) - nhận biết được trí não hoạt động như thế nào; ưu tiên về môi trường học (Dunn và Dunn) - Thiết kế môi trường học tập lý tưởng; các thể thức ghi nhớ (Barbe, Swaassing) - Chiến lược ghi nhớ hiệu quả; cách xử lí thông tin theo kiểu phân tích - tổng hợp (witkin) - phân biệt các phương pháp và các kĩ năng học hiệu quả; Thuyết đa trí thông minh (Gardner) - Phân biệt 7 loại hình trí thông minh. b) Ở Việt Nam Ở Việt Nam, thuật ngữ “PCHT” vẫn còn mới mẻ với nhiều người. Các nghiên cứu cả về lí luận và thực tiễn của các nhà khoa học trong nước về PCHT còn chưa có nhiều. Một số tài liệu lí luận đầu tiên manh nha về PCHT cơ bản xuất hiện trong các sách dịch, sách tham khảo, tạp chí chuyên ngành giáo dục dựa trên quan điểm của các tác giả nước ngoài.
Vì thế mỗi tài liệu tiếp cận PCHT tập theo các hướng khác nhau, nhưng đều với mục đích nhằm 13 phân loại đặc điểm riêng của người học giúp quá trình dạy và học mang lại kết quả tốt nhất. Trong giáo trình "Tâm lý học đại cương", Nguyễn Quang Uẩn chủ biên (2003) dựa trên tính ưu thế, chủ đạo của giác quan nào đó trong trí nhớ ta có trí nhớ bằng mắt, trí nhớ bằng tai, trí nhớ bằng tay,. Sự phân chia trí nhớ theo tiêu chí này cũng trùng khớp với sự phân chia PCHT theo ưu thế giác quan. Trong tài liệu "Cơ sở tâm lí học giáo dục" [18], tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng việc thiết kế bài học trong quá trình dạy học cần phải dựa vào nhiều căn cứ như: nội dung dạy học, môi trường học tập,.
trong đó chỗ dựa cốt yếu nhất và đáng tin cậy nhất chính là PCHT của người học. Chính vì vậy, tác giả nhận định rằng người GV cần phải có chiến lược dạy học thích ứng với PCHT của người học để việc học đạt hiệu quả cao. Nghiên cứu về dạy học dựa vào phong cách học tập a) Trên thế giới Nghiên cứu về dạy học dựa vào PCHT cũng là một đề tài thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu. Sprenger với tài liệu “Dạy học phân hóa thông qua PCHT và trí nhớ” (2008) [56].
Dạy học phân hóa là một trong những quan điểm dạy học đã được triển khai khá phổ biến trên thế giới. Ở Việt Nam đang bắt đầu tiếp cận và vận dụng trong từng hoàn cảnh cụ thể tuy nhiên mới dừng lại ở việc dạy học phân hóa dựa theo năng lực của người học mà chưa tính đến yếu tố phong cách của người học. Thông qua tác phẩm của Marilee B. Sprenger đã giúp người đọc biết thêm về cách phân loại khác của PCHT cùng với những lời khuyên làm thế nào để có thể dạy tốt, đáp ứng với các cá nhân để đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy học.
The Hay Group cũng xuất bản một tập sách mang tên "One Style Doesn’t Fit All: The Different Ways People Learn and Why It Matters" (một phong cách không phù hợp với tất cả: mỗi người có cách khác nhau để học và vấn đề tại sao). Tài liệu trình bày những lợi ích thiết thực của việc phân loại 14 các kiểu PCHT của mỗi cá nhân người học. Bao gồm: đặt người học trong tình huống học và làm việc với những người có điểm mạnh về học tập khác nhau; cải thiện sự phù hợp giữa PCHT của mình với các loại trải nghiệm họ phải đối mặt và thực hành những kĩ năng trong khu vực trái ngược lại với điểm mạnh hiện tại của họ. Các tác giả Mariaemma Willis và Victoria Kindle Hodson với nghiên cứu Khám phá PCHT những đứa trẻ của bạn [55].
Tài liệu này được viết cho bốn đối tượng: những người trẻ tuổi (HS), các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo và những người trưởng thành. Tài liệu đã nhấn mạnh vai trò của việc hiểu được PCHT của HS đối với từng đối tượng sẽ có vai trò quan trọng đến việc học tập của người học như thế nào. Từ đó đưa ra một số bài tập chỉ dẫn về việc xác định PCHT của người học. Tác giả Carol Ann Tomlinson trong tài liệu Làm thế nào để dạy học phân hóa trong lớp học đa trình độ [66] cũng đề cập đến PCHT của HS.
Theo tác giả, việc lập kế hoạch bài học cho lớp học có nhiều HS có nền tảng tri thức khác nhau ngoài một số yêu cầu cơ bản cần đáp ứng như sự sẵn sàng, sự hứng thú học tập thì giờ học muốn đạt hiệu quả cần phải xác định và thích ứng với PCHT của HS. Trong tài liệu Khám phá phong cách học tập của học sinh, tác giả Mariaemma Willi, M.S và Victoria Kindle Hodson, M.A [55] đã chỉ ra những nội dung mà người dạy cần tìm hiểu về người học để có cái nhìn tổng thể PCHT của HS. Cụ thể như các lĩnh vực: tài năng (năng khiếu), hứng thú, thể trạng đặc trưng mỗi cá nhân (thị giác, thính giác, xúc giác), môi trường, khuynh hướng hoạt động (vận động, tổ chức, khám phá, tương tác và sáng tạo). Tác giả Lynne Celli Sarasin đã có nghiên cứu với tên Quan điểm phong cách học tập: tác động trong lớp học (2006) [53].
Trong nghiên cứu này tác giả cũng giới thiệu vài nét khái lược tổng quan về PCHT, tầm quan trọng của việc hiểu ý nghĩa của nó trong quá trình dạy học. Cụ thể hơn nữa tác giả 15 nghiên cứu sâu về PCHT và tác động của nó đối với đối tượng HS bậc sau trung học phổ thông.