mở đầu, chuẩn bị cho các cấp học trên mà còn là kết thúc, chuẩn bị cho đời sống trưởng thành của học sinh [81]. Năm 2011, trong tài liệu tập huấn dạy học tích hợp các nội dung sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, giáo dục môi trường vào nội dung các môn học trong chương trình các cấp, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng "tích hợp là lồng ghép các kiến thức vào trong bài học có sẵn. Cách hiểu này chưa thực sự thấu đáo, theo đó, dạy học tích hợp chỉ là sự sắp đặt các kiến thức liền kề nhau một cách rời rạc mà chưa cho thấy được sự hòa nhập thành một thể thống nhất giữa các thành phần. Năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo định nghĩa "Dạy học tích hợp là một quan điểm lí luận dạy học, hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học" [6].
Khái niệm đã được phát triển so với trước đó, nhưng trong định nghĩa của Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn xem "dạy học tích hợp" là "hành động liên kết" và chỉ giới hạn trong phạm vi "một kế hoạch bài học". Điều này có thể làm cho người đọc hiểu rằng "dạy học tích hợp" chỉ mang tính riêng lẻ, thiếu hệ thống, không liên tục. Xem xét định nghĩa của một số tác giả khác, chúng tôi nhận thấy sự tương đồng của các tác giả là xem dạy học tích hợp là một quan điểm/ quan niệm dạy học chứ không đơn thuần là một hoạt động dạy học. Chẳng hạn, "dạy học tích hợp là một quan điểm sư phạm, ở đó người học cần huy động mọi nguồn lực để giải quyết một tình huống phức hợp, có vấn đề nhằm phát triển các năng lực và phẩm chất cá nhân" [34] hay "dạy học tích hợp là một quan niệm dạy học nhằm hình thành ở học sinh những 12 năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau" [10].
Nghĩa là, dạy học tích hợp bao trùm lên toàn bộ quá trình dạy học, được thể hiện từ mục tiêu hình thành cho người học năng lực giải quyết vấn đề bằng việc huy động kiến thức liên ngành đến việc chi phối chương trình tích hợp, phương pháp dạy học và hình thức tổ chức gắn với các tình huống trong đời sống thực, cùng phương pháp kiểm tra dựa trên đánh giá năng lực, phẩm chất cá nhân. Dạy học tích hợp giúp người học thấy được ý nghĩa của kiến thức cần học, tích lũy được năng lực cần thiết phục vụ cho việc học tập ở những giai đoạn, những bậc học tiếp theo hay phục vụ cho lao động. Nếu người học chẳng may rời khỏi ghế nhà trường ngoài ý muốn thì cũng không thấy sự cách biệt quá lớn giữa kiến thức và thực tế đời sống. Trong phạm vi luận văn, chúng tôi chú trọng đến quan điểm dạy học tích hợp theo chương trình Việt Nam hiện hành.
Các mức độ trong dạy học tích hợp Cách phân chia các mức độ trong dạy học tích hợp phụ thuộc vào quan điểm về dạy học tích hợp. Điển hình, việc thay đổi quan niệm về dạy học tích hợp đã dẫn đến thay đổi cách phân chia các mức độ trong dạy học tích hợp của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Năm 2011, dạy học tích hợp được chia theo 3 mức độ tích hợp là: [3] - Tích hợp toàn phần: mục tiêu và nội dung của bài học phù hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung giáo dục cần tích hợp. - Tích hợp bộ phận: chỉ có một phần bài học có nội dung phù hợp với phần cần tích hợp, được thể hiện bằng một mục riêng, một câu, đoạn trong bài học.
- Tích hợp liên hệ: các kiến thức giáo dục cần tích hợp không được nêu rõ trong sách giáo khoa nhưng có điều kiện thì liên hệ một cách logic. Với cách hiểu tích hợp là sự liên hệ, lồng ghép khi thấy phù hợp trong từng đơn vị bài học nên việc phân chia các mức độ tích hợp trong dạy học như trên dù có 3 mức độ nhưng cũng chỉ dừng lại ở việc lồng ghép, liên hệ trong bài học, là mức độ thấp của dạy học tích hợp theo cách phân chia của nhiều tác giả khác. Năm 2015, dạy học tích hợp được chia thành 4 mức độ như sau: [6]. - Tích hợp trong nội bộ môn học: tìm kiếm sự kết nối giữa các nội dung, chủ đề; 13 - Tích hợp đa môn: một chủ đề có thể xem xét trong nhiều môn học khác nhau; - Tích hợp liên môn: phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết một tình huống; - Tích hợp xuyên môn: tìm cách phát triển ở học sinh những kĩ năngxuyên môn có tính chất chung và áp dụng được ở mọi nơi.
Như vậy, cách phân chia các mức độ dạy học tích hợp năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy sự phát triển trong quan điểm về dạy học tích hợp, phù hợp với quan điểm chung của nhiều nhà giáo dục. Kết hợp cả hai cách phân chia trên, Nguyễn Thị Kim Dung, 2015, đã phân chia các mức độ tích hợp theo thang tăng dần như sơ đồ dưới đây: [10] Hình 1. Sơ đồ các mức độ tích hợp [10] Trong đó, biểu hiện cụ thể của các mức độ như sau: Truyền thống Từng môn học được giảng dạy, xem xét riêng rẽ, biệt lập, không có bất kì sự liên hệ, kết nối nào giống như chụp ảnh cận cảnh từng đoạn - một hướng, một cách nhìn, sự tập trung hạn hẹp vào một môn riêng rẽ. Ví dụ, giáo viên áp dụng quan điểm này trong giảng dạy từng môn như Toán, Khoa học, Nghệ thuật, Ngôn ngữ.
một cách riêng biệt, chỉ trong khuôn khổ kiến thức của môn học mình dạy. Các vấn đề được giải quyết chỉ trên cơ sở những kiến thức, kĩ năng của chính lĩnh vực bộ môn đó. Kết hợp/ lồng ghép Một nội dung nào đó được kết hợp vào chương trình đã có sẵn như sử dụng chương trình học về xã hội và xúc cảm để hướng dẫn kết hợp hoặc kết hợp, lồng ghép các chủ đề về dân số, môi trường, an toàn giao thông, sức khỏe sinh sản, kĩ năng sống. vào các lĩnh vực môn học như Địa lí, Sinh học, Giáo dục đạo đức và Công dân.
14 Tích hợp trong một môn học Tích hợp những nội dung của các phân môn, các lĩnh vực nội dung thuộc cùng một môn học theo những chủ đề, chương, bài cụ thể nhất định. Chẳng hạn như học sinh sử dụng các đại lượng khi đo độ dài, tính diện tích, thể tích. Đa môn Ở đây các môn học là riêng biệt nhưng có những liên kết có chủ đích giữa các môn học và trong từng môn bởi các chủ đề hay các vấn đề chung. Có thể sơ đồ hóa như sau: Hình 1.
Sơ đồ tích hợp đa môn [10] Theo cách tiếp cận đa môn này, một vấn đề được dạy ở nhiều môn cùng một lúc nên nội dung giảng dạy từng bộ môn không cần phải thay đổi nhiều. Nội dung và đánh giá vẫn theo đặc trưng bộ môn. Khác biệt là ở mục tiêu mong đợi: tạo ra những kết nối giữa các bộ môn đòi hỏi học sinh giải quyếtvấn đề dựa trên kiến thức thu được ở nhiều bộ môn khác nhau. Đôi khi các tiếp cận đa môn đã tạo ra những liên kết rất mạnh và khi đó thì những ngăn cách bộ môn bị mờ đi và chương trình chuyển sang mức độ liên môn.
Liên môn Các môn học được liên hợp với nhau và giữa chúng có những chủ đề, vấn đề, những khái niệm lớn và những ý tưởng lớn chung. Chương trình liên môn tạo ra những kết nối rõ rệt giữa các môn học. Chương trình cũng xoay quanh các chủ đề/ vấn đề chung, nhưng các khái niệm hoặc các kĩ năng liên môn được nhấn mạnh giữa các môn chứ không phải trong từng môn riêng biệt. Sơ đồ sau chỉ rõ tiếp cận liên môn: 15 Lịch sử Toán - Chủ đề/ vấn đề Lịch sử - Các chuẩn liên môn Hình 1.
Sơ đồ tích hợp liên môn [10] Xây dựng môn học mới bằng cách liên kết một số môn học với nhau thành môn học mới nhưng vẫn có những phần mang tên riêng của từng môn học. Ví dụ: chương trình và sách giáo khoa các môn Khoa học của Pháp được xây dựng theo hướng liên môn: môn Lí - Hoá; môn Sinh - Địa chất (hoặc Khoa học về Trái đất), chương trình tiểu học ở Việt Nam có liên môn Lịch sử - Địa lí. Xuyên môn Cách tiếp cận những vấn đề từ cuộc sống thực và có ý nghĩa đối với học sinh mà không xuất phát từ các khoa học tương ứng với môn học, từ đó xây dựng thành các môn học mới, khác với môn học truyền thống bằng cách kết hợp hai hay nhiều môn học với nhau thành những chủ đề chính hay nhánh chính và không còn mang tên của mỗi môn học. Thí dụ: Môn Khoa học (Science) của Vương Quốc Anh, Australia, Singapore.
Môn Khoa học Tự nhiên (Physical Science) của Hoa Kì, Hàn Quốc, Canada. Môn Nghiên cứu xã hội (Social Studies) của Nhật Bản, môn Nghiên cứu Xã hội và Môi trường (Studies of Society and Environment) của Australia v. Cách tiếp cận này bắt đầu bằng ngữ cảnh cuộc sống thực. Nó không bắt đầu bằng môn học hay bằng những khái niệm hoặc kĩ năng chung.
Điều quan tâm nhất ở đây là sự phù hợp đối với học sinh. Điểm khác duy nhất so với liên môn là ở chỗ, chúng bắt đầu bằng ngữ cảnh cuộc sống thực và sở thích của học sinh. Sơ đồ hóa như sau: Ngữ cảnh cuộc sống thực Dựa vào vấn đề Học sinh là người đưa ra vấn đề Hình 1. Sơ đồ tích hợp xuyên môn [10] 16 Ở góc độ khác, Đỗ Hương Trà (2012), đã phân chia 3 mức độ tích hợp trong dạy học như sau: [34] - Lồng ghép/ Liên hệ: đưa các yếu tố, nội dung gắn với thực tiễn, gắn với xã hội, gắn với các môn học khác vào dòng chảy chủ đạo của nội dung bài học của một môn học.
Ở mức độ lồng ghép, các môn học vẫn dạy riêng rẽ. Tuy nhiên, giáo viên có thể tìm thấy mối quan hệ giữa kiến thức của môn học mình đảm nhận với nội dung của các môn học khác và thực hiện việc lồng ghép kiến thức đó ở những thời điểm thích hợp. Dạy học tích hợp ở mức độ lồng ghép có thể thực hiện thuận lợi ở nhiều thời điểm trong tiến trình dạy học.