đặt vấn đề một cách hình thức. Trong bài viết này tác giả dùng một số kĩ thuật sử dụng tình huống thực tiễn để gợi động cơ, tạo hứng thú cho sinh viên trong dạy học xác suất thống kê. Bài viết: “Tư duy thống kê trong dạy học toán ở phổ thông” của tác giả Nguyễn Danh Nam (2014) trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc Gia về nghiên cứu giáo dục toán học theo hƣớng phát triển năng lực ngƣời học giai đoạn 2014 – 2020. Bài viết đã trình bày khái niệm tƣ duy thống kê, những biểu hiện và vai trò của nó trong dạy học môn Toán ở trƣờng THPT.
Bài báo khoa học: “Tình huống dạy học hợp tác trong dạy học giải bài tập xác suất và thống kê cho sinh viên đại học ngành Y – Dược” của tác giả Quách Thị Sen đƣợc đăng trên Tạp chí Giáo dục số 354 năm 2015. Bài báo trình bày khái niệm tình huống dạy học hợp tác; một số ví dụ về việc thiết kế một số tình huống dạy học hợp tác trong dạy học giải bài tập xác suất – thống kê cho sinh viên ngành Y – Dƣợc. Bài báo khoa học: “Dạy học xác suất thống kê cho sinh viên ngành kinh tế, kĩ thuật theo hướng gắn với thực tiễn nghề nghiệp sau quá trình đào tạo” của tác giả Trần Trung – Nguyễn Mạnh Cƣờng đƣợc đăng trên Tạp chí Giáo dục số 362 năm 2015. Bài báo trình bày vai trò của xác suất thống kê đối với ngành kinh tế, kĩ thuật và dạy học xác suất thống kê cho sinh viên khối kĩ thuật và kinh tế theo hƣớng gắn với bối cảnh thực tiễn nghề nghiệp sau đào tạo.
Bài báo khoa học: “Dạy học xác suất thống kê cho sinh viên ngành Y – Dược theo hướng phân hóa phù hợp với từng chuyên ngành” của tác giả Nguyễn Thanh Tùng đƣợc đăng trên Tạp chí Giáo dục số 365 năm 2015. Bài báo trình bày quan niệm, cách thức hay kĩ thuật dạy học xác suất – thống kê cho sinh viên Y- Dƣợc theo hƣớng dạy học phân hóa. Bài báo khoa học: “Xây dựng mô hình toán học trong dạy học xác suất thống kê cho sinh viên khối ngành kinh tế ” của tác giả Nguyễn Danh Nam –Đồng Thị Hồng Ngọc (2016) đƣợc đăng trên Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Thái 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bài viết trình bày thực trạng dạy học xác suất – thống kê cho sinh viên đại học khối ngành kinh tế, từ đó đề xuất việc đƣa vào các mô hình toán học gắn với thực tiễn nghề nghiệp của sinh viên, giúp sinh viên biết xây dựng các mô hình toán kinh tế nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn kinh tế địa phƣơng và nền kinh tế vĩ mô.
Bài báo khoa học: “Khai thác một số nội dung môn xác suất thống kê để áp dụng phương pháp dạy học theo dự án ở trường Đại học Hàng Hải Việt Nam” của tác giả Đồng Xuân Cƣờng đƣợc đăng trên Tạp chí Giáo dục số đặc biệt năm 2017. Bài viết đề cập vấn đề khai thác nội dung môn Xác suất thống kê ở Trƣờng Đại học Hàng hải Việt Nam để áp dụng phƣơng pháp dạy học theo dự án. Bài báo khoa học: “Sử dụng một số mô hình động nhằm kiến tạo tri thức xác suất thống kê cho học sinh” của tác giả Nguyễn Danh Nam, Nguyễn Thị Tuyền đƣợc đăng trên Tạp chí Thiết bị Giáo dục số 139 năm 2017. Bài báo đã trình này những mô hình động có sử dụng phần mềm Fathom để áo dụng vào giảng dạy nhằm kiến tạo tri thức xác suất thống kê cho học sinh THPT.
Bài báo khoa học: “ Một số biện pháp tăng cường liên hệ thực tiễn trong dạy học Xác suất – Thống kê nhằm hỗ trợ nghề nghiệp cho sinh viên Trường Đại học Hàng hải Việt Nam” của tác giả Mai Văn Thi đƣợc đăng trên Tạp chí Giáo dục số 439 năm 2018. Bài báo đã đƣa ra một số biện pháp tăng cƣờng liên hệ thực tiễn trong giảng dạy xác suất thống kê nhằm hỗ trợ cho sinh viên các ngành kinh tế, kĩ thuật hàng hải tại Trƣờng Đại học Hàng hải Việt Nam. Bài báo khoa học: “Vận dụng phân loại tư duy Bloom và phân loại tư duy MATH để đánh giá mức độ suy luận thống kê Y học của sinh viên ngành Y ” của tác giả Trần Thúy Hiền - Lê Phƣớc Sơn đƣợc đăng trên Tạp chí Giáo dục số 447 năm 2019. Bài viết đã vận dụng các phân loại tƣ duy Bloom và phân loại tƣ duy MATH để đề xuất phƣơng thức đánh giá mức độ suy luận thống kê y học của sinh viên ngành Y.
Kết quả thu đƣợc cho thấy các công cụ đánh giá mức độ suy luận thống kê y học của sinh viên ngành Y đƣợc thiết kế theo phân loại tƣ duy Bloom và phân loại tƣ duy MATH là chính xác và hiệu quả. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhƣ vậy có thể thấy đề tài về thống kê là đề tài có nhiều tiềm năng khai thác. Nhƣng việc khai thác dạy học Thống kê chủ yếu ở bậc Đại học, Cao đẳng vì ở những bậc học cao hơn xác suất thống kê đã trở thành một bộ môn bắt buộc trong chƣơng trình và việc học và ứng dụng Thống kê vào thực tiễn nghề nghiệp là rất cần thiết. Ở cấp THPT những đề tài nghiên cứu về thống kê còn chƣa phong phú và đa dạng vì vậy cần tiếp tục khai thác nhiều hơn và sâu hơn về nội dung Thống kê ở chƣơng trình phổ thông để chuẩn bị cho sự thay đổi trong chƣơng trình mới sắp tới.
Lý thuyết RME và cách vận dụng vào dạy học Toán gắn với thực tiễn 1. Giới thiệu lý thuyết RME Theo những nghiên cứu của Van den Heuvel – Panhuizen [17]. Lý thuyết RME (Realistics Mathematics Education) đƣợc khởi nguồn từ Hà Lan, qua gần 50 năm phát triển, RME đã trở thành nền tảng chính cho giáo dục Toán học ở Hà Lan. Theo đó RME là viết tắt của cụm từ Realistics Mathematics Education có nghĩa là dạy học Toán gắn với thực tiễn.
Lý thuyết này phát triển bắt đầu từ năm 1970, nền tảng của lý thuyết đƣợc xây dựng bởi Freudenthal và các đồng nghiệp của ông tại IOWO trƣớc đây, tiền thân của viện Freudenthal. Sự thúc đẩy cho phong trào cải cách theo lý thuyết này đƣợc khởi đầu từ năm 1968 trong dự án Wiskobas, đƣợc khởi sƣớng bởi Wijdeveld và Goffree. Nhƣng ngƣời phát triển nó trở thành một lý thuyết chủ yếu dựa trên quan điểm của Freudenthal về toán học. Ông cho rằng toán học phải đƣợc kết nối với thực tế, gần gũi với trẻ em và có liên quan đến xã hội, đem lại giá trị cho con ngƣời.
Thay vì xem Toán học là môn học truyền tải tri thức, Freudenthal nhấn mạnh toán học nhƣ một hoạt động của con ngƣời. Các bài học môn Toán sẽ cung cấp cho học sinh cơ hội để phát minh lại toán học bằng cách thực hiện nó. RME nhấn mạnh vào cái mà con ngƣời ta phải làm, phải giải quyết trong bối cảnh thực tuy nhiên điều này không phải lúc nào cũng cần thiết. Cho dù là tình huống giả thiết hay bối cảnh thực thì chỉ cần cung cấp bối cảnh phù hợp cho một vấn đề cần giải quyết, miễn là chúng có thật trong tâm trí học sinh.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ba luận điểm cơ bản của Lí thuyết RME Theo Trần Cƣờng, Nguyễn Thùy Duyên ([3], tr 166 ) có thể chỉ ra một số luận điểm cơ bản trong lí thuyết RME nhƣ sau: Luận điểm 1: Toán học nhƣ một hoạt động sống Toán học đã trải qua một quá trình phát triển cùng với xã hội loài ngƣời không chỉ trở thành công cụ giúp con ngƣời tính toán mà còn đƣợc nâng lên thành một sản phẩm trí tuệ, một ngành khoa học cơ bản trong hệ thống lí thuyết, không chỉ xuất phát từ nhu cầu thực tiễn mà còn tự thân phát triển từ nội bộ môn Toán. Trong xã hội ngƣời ta sử dụng toán học với nhiều mục đích khác nhau nhƣng khi toán học ngày càng đƣợc nghiên cứu một cách sâu sắc và trừu tƣợng thì toán học không trở nên phổ biến với tất cả mọi ngƣời. Những lí thuyết đồ sộ trong toán học, những công trình nghiên cứu khoa học chỉ một số ít ngƣời hiểu đƣợc đó là các nhà toán học, những ngƣời nghiên cứu sâu về toán còn đa số ngƣời dân họ chỉ cần biết đến các phép tính toán, đo lƣờng thông thƣờng.
Vì vậy nội dung đƣa vào giáo dục toán học trong nhà trƣờng ở trình độ phổ thông không nhất thiết và không cần thiết phải là những lí thuyết Toán quá sâu, mà nên thiên về học toán để thực hành, để vận dụng vào thực tiễn, toán nhƣ một hoạt động sống: tính đếm, đo đạc, so sánh, phân tích, thống kê, chia trƣờng hợp, đánh giá, dự đoán, ra quyết định,… Toán học phải đƣợc kết nối với thực tiễn, với những gì diễn ra xung quanh học sinh. Thay vì nhìn Toán học nhƣ một nhƣ một chủ đề cần truyền đạt, RME nhấn mạnh ý tƣởng toán học nhƣ một hoạt động của con ngƣời. Các bài học nên cung cấp cho học sinh cơ hội hƣớng dẫn để phát minh lại toán học bằng cách thực hiện nó. Luận điểm 2: Dạy toán là hƣớng dẫn học sinh „Phát minh lại” tri thức Con đƣờng để tìm ra một định lí toán học có thể kéo dài hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm để xây dựng đƣợc một lí thuyết toán học.
Chúng ta không thể tái hiện lại con đƣờng ấy một cách chân thực trong lớp học. Nhƣng quá trình đó, phần nhiều có thể đƣợc mô phỏng nhƣ những thí nghiệm, phù hợp với con đƣờng nhận thức tự nhiên của ngƣời học, vừa có ý nghĩa giáo dục, vừa có ý nghĩa thực tiễn. Học sinh không thể lặp lại quá trình phát minh của nhà toán học, tuy nhiên với vai trò là ngƣời thụ hƣởng những sản phẩm nghiên cứu của các nhà toán học , học sinh có thể 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com diễn lại phát minh đó trong một hoàn cảnh tƣơng tự thực tế đối với học sinh dƣới sự hƣớng dẫn của giáo viên và tài liệu học tập. Luận điểm 3: Toán học dƣới góc độ sƣ phạm Các nhà toán học đƣa kiến thức vào một dạng ngôn ngữ, tách khỏi ngữ cảnh, phi cá nhân hóa, tách rời hình thức, tiến tới giai đoạn cuối cùng trong lý thuyết toán học là kiến thức đƣợc chuẩn hóa bằng hệ thống hóa bằng các định nghĩa, định lí, tiên đề, quy tắc, tính chất,… Điểm cuối này lại là điểm khởi đầu cho giáo viên khi đƣa các nội dung này vào bài giảng.