Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu về đề tài 1. Một số nghiên cứu trên thế giới Từ cuối thế kỉ XVI đến cuối thế kỷ XVIII khái niệm DHDA đã dần được hình thành và phát triển tại Ý. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nước Mỹ đã tiến hành cuộc cải cách giáo dục và đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp DHDA.
Ngày nay DHDA được ứng dụng trong nhiều cấp, môn học, ngành học ở nhiều nước trên thế giới. Trong công trình Project method (Kilpatrick) [22], đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm về “phương pháp dự án” và phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới. Với nhận định “tâm lý đứa trẻ” là yếu tố quan trọng trong quá trình học tập, Kilpatrick coi động cơ thúc đẩy học sinh như là các tính năng quan trọng của phương pháp dự án: Trẻ em muốn làm những gì chúng thích hơn là làm những gì theo sự ép buộc của người khác. Theo Kilpatrick, các dự án có bốn giai đoạn: xác định mục đích, lập kế hoạch, thực hiện, và đánh giá, và tác giả đã triển khai cụ thể các bước thực hiện trong các nghiên cứu cũng như các dự án thực nghiệm của mình.
Ông cho rằng một dự án lý tưởng khi tất cả bốn giai đoạn được bắt đầu và hoàn thành bởi các học sinh và không phải giáo viên. Ông còn rất nhiều công trình viết về phương pháp dự án, cụ thể như tài liệu School method from the project point of view [23], dành cho đào tạo giáo viên về phương pháp dự án. Hay Die Projekt-methode [24] về phương pháp dự án… Tuy nhiên, ông cho rằng DHTDA có thể được áp dụng rộng rãi ở mọi lĩnh vực, kể cả trong dạy lý thuyết, thực hành hay tích hợp. Thực tế cho thấy quan điểm nói trên của ông không hoàn toàn đúng, bởi vì DHTDA có những điều kiện riêng, nó không phù hợp với những môn học, lĩnh vực mang tính thuần túy lý thuyết.
Trong công trình Project work in education (James Leroy Stockton)[6], đã phân tích các nguyên tắc giáo dục và đặc điểm của dự án để đề xuất xem làm việc theo dự án (Project work) như là một đối tượng học tập tạo ra cuộc cách mạng trong giáo dục ở Mỹ, khẳng định giá trị của phương pháp dự án là có thể được sử dụng trong tất cả các môn học và định hướng thực tiễn của dạy học khi sử dụng phương pháp này. Tuy nhiên, cũng giống như Kilpatrick, ông cho rằng DHTDA có thể được sử dụng cho tất cả các môn học, là điều không khả thi. 5 c Bài viết A view of reseach on project-based learning (John Thomas) [21], đã tổng hợp các công trình nghiên cứu về PPDH dự án hay học tập dựa trên dự án của các nhà nghiên cứu giáo dục trên thế giới. Công trình đã tổng hợp các quan điểm cũng như phân tích các kết quả của các hướng nghiên cứu của một số tác giả, qua đó cung cấp cái nhìn tổng quan về các khía cạnh sau của DHTDA: Định nghĩa về DHTDA; Nền tảng lý luận và thực tiễn của DHTDA; Những tác động tích cực của DHTDA; Vai trò và đặc điểm của SV trong DHTDA; Những thách thức và nâng cao hiệu quả của DHTDA, và những định hướng/xu hướng cho nghiên cứu về DHTDA.
Đặc biệt, gần đây nhất, Bender William N. trong công trình nghiên cứu Project - Based Learning. Differentiating Instruction for the 21st Century [19] đã chỉ ra rằng DHTDA là cách tiếp cận dạy học tốt nhất của thế kỷ 21 nhằm giúp người học giải quyết vấn đề thực tiễn. Trên cơ sở trình bày tổng quan về DHTDA và các mô hình dự án khác nhau, tác giả đã trình bày sự phù hợp giữa DHTDA với các lớp học cụ thể, đồng thời chỉ ra những ưu thế của DHTDA so với dạy học truyền thống.
Tác giả đã trình bày các bước thực hiện cụ thể cho việc lập kế hoạch và hướng dẫn thựch iện một số mô hình DHTDA, đề xuất kỹ thuật và các chiến lược để DHTDA. Cuối cùng tác giả đã phân tích sự lựa chọn đánh giá trong DHTDA và sự cần thiết kết hợp DHTDA với các tiêu chuẩn Nhà nước.D (2000), “A Review of Research on Project Based Learning” [21] Là công trình tổng quan về các nghiên cứu DHDA trong thập niên cuối cùng của TK 20 về 8 vấn đề chính: Diễn giải Khái niệm DHDA; Cơ sở lí luận và thực tiễn về DHDA; Đánh giá về hiệu quả của DHDA; Vai trò và đặc điểm của HS/SV trong DHDA; Khó khăn, thách thức trong ứng dụng DHDA vào thực tế dạy học; Nâng cao hiệu quả của DHDA; Các kết luận chính; Định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo về DHDA. Trên cơ sở phân tích các nghiên cứu lí thuyết và thực nghiệm từ các trường Đại học và phổ thông với hầu hết các chuyên ngành (y tế, tài chính, kiến trúc, pháp luật, giáo dục…) và các môn học (toán, văn, công nghệ, địa lí…) tác giả đã đúc kết được những hiệu quả DHDA mang lại cho SV/ HS, nhà trường như: tăng chất lượng và hứng thú trong học tập; tăng ý thức tham gia công tác xã hội; phát triển tư duy; tăng cường các kĩ năng: đọc - viết, diễn thuyết, công nghệ thông tin, làm việc cá nhân và làm việc 6 c hợp tác, khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn; tạo điều kiện để HS/SV được tiếp xúc với những vấn đề mới mẻ; thay đổi cá nhân của người học… Bên cạnh đó người dạy và người học vẫn có thể phải đối mặt với một số khó khăn. Chẳng hạn: HS/SV có thể lạc đề theo sở thích cá nhân, thực hiện không đúng kế hoạch hoặc không theo hệ thống, khó khăn trong thu thập và xử lí dữ liệu, trong hợp tác nhóm, thiếu kĩ năng xã hội… Trong khi đó GV phải mất nhiều thời gian để theo dõi quá trình làm việc của HS/SV (điều chỉnh, giải quyết mâu thuẫn), khó khăn trong việc tích hợp công nghệ, trong phân công công việc phù hợp với năng lực của HS, trong đánh giá kết quả khách quan, chính xác…Cuối cùng tác giả đề xuất giải pháp khắc phục đồng thời cũng chính là hướng nghiên cứu DHDA tiếp theo như: Hiệu quả của DHDA trong tương quan so sánh với các phương pháp khác? Khả năng giáo dục kĩ năng sống và giá trị sống của DHDA? Giải pháp cho khó khăn và thách thức của DHDA ? Đây là tài liệu tham khảo quan trọng, gợi mở cho hướng nghiên cứu của học viên nhằm khai thác tối đa mặt thuận lợi và góp phần khắc phục những khó khăn thách thức của DHDA.
Ngoài ra tổ chức dạy học theo DA cũng được sử dụng khá phổ biến trong tất cả các cấp học ở các nước Châu Á như Thái Lan, Singgapo, Hồng Kông… các DA học tập được HS thực hiện thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau và dạy học theo DA đang là vấn đề đáng quan tâm nghiên cứu đối với những nhà sư phạm của các nước này. Những nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, khi nền kinh tế đất nước có những chuyển biến vượt bậc theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đòi hỏi giáo dục phải phát triển, hiện đại hoá và gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế - xã hội. Các phương pháp dạy học có tính khả thi đã và đang được khai thác, phát triển hoàn thiện về lý luận và từng bước được đưa và thực hiện dạy học. Từ xu hướng trên, việc đổi mới PPDH trong đó có PPDH theo DA cũng được quan tâm nghiên cứu trong nhiều góc độ tiếp cận khác nhau.
Một số năm gần đây, với những ưu điểm vượt trội, dạy học theo DA đã đang được sự thu hút của nhiều nhà nghiên cứu và dạy học theo DA được đề cập nhiều hơn trong các tài liệu Tiếng Việt với những tên gọi khác nhau như: đề án, dạy học theo DA, phương pháp DA. Cùng với sự tăng cường hợp tác quốc tế trong những năm gần đây, dạy học theo DA cũng được tăng cường giới thiệu và vận dụng ở Việt Nam. Dạy học theo DA được 7 c đưa vào chương trình lý luận dạy học đại học dành cho các khoá cao học ở Đại học sư phạm Hà Nội, Đại học sư phạm Huế trong chương trình hợp tác quốc tế của DA phát triển GV THCS cũng như được đưa vào chương trình hội thảo tập huấn của DA phát triển THPT. Trong lĩnh vực giáo dục phổ thông, cùng với việc thực hiện các DA phát triển giáo dục, dạy học theo DA cũng bước đầu được áp dụng trong một số môn học như Toán, Địa lí, Hóa học, Sinh học, Vật lí… Từ năm 2006 trở lại đây, có rất nhiều GV ở các bậc học, nghiên cứu sinh, sinh viên của các trường đại học, cao đẳng trên cả nước quan tâm nghiên cứu và vận dụng dạy học theo DA vào giảng dạy.
Trong việc vận dụng PPDH DA vào quá trình dạy và học hiện có rất nhiều đề tài luận văn, luận án của nhiều học viên ở các trường như Đại học sư pham thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Vinh, ĐH Thái Nguyên… Tác giả Nguyễn Thị Diệu Thảo, “Dạy học theo dự án và vận dụng trong đào tạo giáo viên THCS môn công nghệ”, luận án tiến sĩ - Đại học sư phạm Hà Nội, năm 2009. Luận án nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của DHTDA trong đào tạo GV kinh tế gia đình, đề xuất được các phương án vận dụng, xác định được các dạng DA đặc thù và xây dựng tiến trình DHTDA trong đào tạo GV kinh tế gia đình. Ngoài ra, theo tác giả một dự án có thể kéo dài nhiều giờ, nhiều ngày hoặc nhiều tuần và không chỉ trong một môn học mà có thể ở nhiều môn học. Về mặt tổ chức, có 3 hình thức chính: (1) Học cả lớp: thường ở giai đoạn đầu của DA; (2) Học theo nhóm; (3) Làm việc cá nhân [12] Theo Đỗ Hương Trà, Phùng Việt Hải (2008), Hoạt động học tập trong DHDA và những kết quả thu được.
Tiến trình DHDA đã được các tác giả làm rõ các pha, đưa thêm giai đoạn xác định các nguồn lực cần thiết là những điểm mới của lí luận DHDA [15] Trần Anh Tuấn (2012), “Dạy học theo dự án”,Theo tác giả, cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó chú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống.