Mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về dạy học theo dự án. 4 Luan van Chƣơng 2: Thực trạng dạy học mô đun Tiện 2 tại Trƣờng Cao đẳng nghề Việt Nam – singapore Chƣơng 3: Tổ chức dạy học theo dự án mô đun Tiện 2 tại Trƣờng Cao đẳng nghề Việt Nam – singapore Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 5 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 1.SƠ LƢỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 1. Thế giới: Khái niệm “dự án” đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, không chỉ có ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn đƣợc sử dụng nhƣ một phƣơng pháp hay một hình thức dạy học [ 1, tr. Khái niệm Project trong dạy học bƣớc đầu đƣợc sử dụng ở các trƣờng kiến trúc tại Ý, trong các cuộc thi vào học viện hoàng gia.
Tại các cuộc thi này, sinh viên đƣợc giao nhiệm vụ thiết kế và gia công một sản phẩm kỹ thuật hoàn thiện một cách tự lực, trong đó cần vận dụng các lý thuyết, kỹ năng đã học. Sau đó, dạy học theo dự án (DHTDA) xuất hiện ở Pháp năm (1670) và ở Đức năm (1842) và lan rộng sang Mỹ [12,tr. Tuy nhiên việc thiết kế trong các cuộc thi vào học viện chỉ là những tình huống giả định. Các vấn đề học tập chƣa bắt nguồn với thực tế và chỉ đƣợc áp dụng trong các trƣờng học kiến trúc.
DHTDA chỉ áp dụng trong các kỳ thi vào học viện chƣa đƣợc vận dụng trong quá trình giảng dạy ở các môn học. Đây chính là những vấn đề cốt lõi khởi đầu các bài học dự án ở giai đoạn này. Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, nƣớc Mỹ với phong trào cải cách giáo dục diễn ra mạnh mẽ, trong đó tƣ tƣởng giáo dục căn bản của cuộc cải cách này là dạy học lấy học sinh làm trung tâm, hay gọi là dạy học định hƣớng học sinh. Trong phong trào cải cách đó, các nhà sƣ phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận về DHTDA và coi đó là phƣơng pháp dạy học (PPDH) quan trọng.
Những quan điểm triết học giáo dục và lý thuyết nhận thức của J.Dewey đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lý thuyết cho phƣơng pháp dự án (PPDA) của các nhà sƣ phạm Mỹ đầu thế kỷ 20. Ban đầu DHTDA đƣợc sử dụng chủ yếu trong dạy học thực hành các môn học kỹ thuật. Cùng với sự ứng dụng ngày càng rộng rãi, các dự án học tập sau đó đƣợc sử dụng cho tất cả các môn học, kể cả các môn học khoa học xã hội. 6 Luan van Trong các nƣớc thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trƣớc đây, tƣ tƣởng dạy học theo dự án có thể tìm thấy ở các trƣờng học lao động ở Nga nhƣ mô hình trƣờng học lao động Blonxki, Makarenko.
Trong các trƣờng học này, học sinh thƣờng đƣợc giao các nhiệm vụ lao động phức hợp và thực hiện một cách tự lực, sáng tạo [5,tr. Các quan điểm về DHTDA của các nhà sƣ phạm Mỹ đã đƣợc sử dụng và tiếp tục đƣợc nghiên cứu trong trào lƣu cải cách giáo dục tại châu Âu với các công trình nghiên cứu điển hình nhƣ sau: Ở Châu Âu, Celestin Freinet (1892 – 1966) là ngƣời tiên phong và có ảnh hƣởng mạnh mẽ đối với dạy học theo dự án. Theo ông, lớp học trƣớc hết là một nơi mà ở đó tất cả phải áp dụng các cách làm việc để nghiên cứu các thông tin, trao đổi các ý kiến hoặc trả lời từ các HS khác, phân tích các dữ kiện hoặc trình bày các bài báo tập hợp đƣợc. Trong môi trƣờng nhƣ thế, sự hợp tác ở bên trong nhóm là quan trọng.
Mong muốn của Freinet là tạo nên một cá nhân có đầu óc phát triển tốt hơn là đầu óc đƣợc rót đầy kiến thức. Một nguyên tắc của phƣơng pháp này là niềm tin gần nhƣ không giới hạn vào quyền lực của giáo dục và khả năng phát triển của ngƣời học, sự cần thiết phải chịu trách nhiệm trƣớc xã hội qua những công việc đảm nhận với những ngƣời khác, sự chịu trách nhiệm của cá nhân và tập thể bên trong nhóm và trong đó mỗi ngƣời có một nét riêng [21]. Trong Thuyết Kiến tạo nhận thức, nhà tâm lý và giáo dục nổi tiếng ngƣời Thụy Sĩ Jean Piaget (1896 – 1983) cho rằng, học tập là quá trình cá nhân hình thành các tri thức cho mình. Đây là quá trình cá nhân tổ chức các hành động tìm tòi, khám phá thế giới bên ngoài và cấu tạo lại chúng dƣới dạng sơ đồ nhận thức.
Theo ông, sơ đồ là một cấu trúc nhận thức bao gồm các thao tác giống nhau theo một trật tự nhất định, đƣợc ngƣời học xây dựng lên bằng chính hành động của mình [21]. Dạy học theo dự án với các ƣu điểm đã đƣợc khẳng định trong các công trình nghiên cứu của các tổ chức quốc tế nhƣ sau: 7 Luan van Xuất phát từ việc phân tích hiệu quả của dạy học dự án bằng cách khảo sát một số đối tƣợng là ngƣời học, Regie Stites ( Viện nghiên cứu quốc tế SRI, Mỹ) chứng minh mối liên hệ giữa phƣơng pháp dạy học dự án và lý thuyết học tập, chiến lƣợc dạy học qua công trình nghiên cứu [14]. Trong công trình nghiên cứu “ Mối quan hệ giữa con ngƣời và không gian”, Susan J. Wolff ( Đại học bang Oregon, Mỹ) đã nhấn mạnh tầm quan trọng, tính đa dạng của môi trƣờng học tập.
Môi trƣờng học tập không nhất thiết là trƣờng – lớp mà môi trƣờng học tập có thể ngoài trƣờng và đƣa ra 32 kiểu môi trƣờng học tập tự nhiên đặc trƣng thích hợp cho dạy học hợp tác và dạy học theo dự án ở bậc cao đẳng cộng đồng [22]. Các nghiên cứu về dạy học theo dự án của George Lucas đã chứng minh rằng phƣơng pháp này giúp ngƣời ho ̣c đào sâu tri th ức môn học thông qua các hoạt động học tập cụ thể. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng dạy học theo dự án giúp ngƣời ho ̣c thích m ở rộng kiến thức vƣợt khỏi phạm vi sách vở, giáo trình, đồng thời phát triển đƣợc sự tự tin và khả năng tự định hƣớng khi làm việc độc lập và làm việc với nhóm [19]. Trong cuốn Project Based Learning Handbook, các tác giả BIE (Buck Institute for Education – tổ chức nghiên cứu và phát triển phi lợi nhuận của Mỹ đƣợc thành lập năm 1987, nghiên cứu về DHTDA và dạy học giải quyết vấn đề đã phân tích khá sâu sắc và toàn diện các vấn đề về DHTDA nhƣ vai trò, đặc điểm, giải pháp tổ chức thực hiện,… Theo BIE, cần phải đƣợc trang bị cả kiến thức và kỹ năng để thành công, trở thành ngƣời công dân tốt, có thể lên kế hoạch, cộng tác và giao tiếp.[23] Nhƣ vậy, dạy học theo dự án đã đƣơc quan tâm nghiên cứu từ rất lâu.
Các nghiên cứu này đã khẳng định tính ƣu việc của DHTDA đồng thời đã đƣa ra các giải pháp vận dụng ở hầu hết các môn học, bậc học với những quan điểm khác nhau nhƣ sau: - Vận dụng DHTDA nhƣ một quan điểm dạy học. - Vận dụng DHTDA nhƣ một hình thức tổ chức dạy học 8 Luan van - Vận dụng DHTDA nhƣ là một phƣơng pháp dạy học Quá trình hình thành DHTDA trên thế giới đã M. Ludwig tóm lƣợc theo hình 1.1 Ý Các học viện Hoàng gia đầu tiên đƣợc thành lập: Neapel (1443), Florenz (1447), Rom (1460) PHÁP Academie Royale de Architechire (1670), Ecole Polytechnique (1794), Ecole Centrale (1892) Phƣơng pháp Dự án đƣợc đƣa vào các ý tƣởng trong Sƣ ĐỨC phạm và Triết học: Karisruhe (1842) ROUSSEAU (1712 – 1778) PESTALOZZI (1767 – 1835) MARX (1818 – 1883) MỸ (Dự án thủ công) ROGER – “Massachuselts institut” (1865) MỸ (Nền giáo dục mới) ELIOT – “The new Education” (1869) MONTESSORI – “Päedagogik vom Kinde aus” (1900) MỸ (Dự án Sƣ phạm) RICHARDS – “Project” (1896) DEWEY – “How we think” (1918) PARKHURST–“Daltonplan”(1920) NGA (Các Dự án Sƣ phạm) (1918) BLONSKY – “Trƣờng thực hành” (1888) MAKARENKO – “Phụ thuộc giới trẻ” (1920) Hình 1.1: Sơ đồ tóm tắt lịch sử hình thành DHTDA trên thế giới [15,tr.2 Việt Nam Ở Việt Nam, có thể tìm thấy hình thức dạy học gần gũi với dạy học theo dự án ở các đồ án môn học, đồ án tốt nghiệp trong hệ thống đào tạo ở bậc đại học và cao đẳng. Ở đó, sinh viên thực hiện những nhiệm vụ học tập một cách tự lực dƣới sự hƣớng dẫn của giáo viên.
Vào những năm 1960 - 1980, ở các trƣờng phổ thông hoạt động thực hiện những nhiệm vụ lao động của học sinh gần gũi với dạy học theo dự án. Đặc biệt trong những năm 1980, cùng với sự phát triển của phong trào hƣớng nghiệp, nhiều trƣờng đã thực hiện các dự án nhƣ dự án trồng cây, dự án phát triển vƣờn trƣờng. Tuy nhiên, trên lĩnh vực lý luận dạy học, PPDH này chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu một cách thích đáng. Các hình thức dạy học trong giai đoạn này chỉ dừng lại trong phạm vi các đồ án tốt nghiệp, đồ án môn học ở bậc đại học và trong những hoạt động ngoại khóa ở các trƣờng phổ thông.
Thực hiện các quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục nhằm nâng cao chất lƣợng Giáo dục và đào tạo, dạy học theo dự án đã đƣợc quan tâm và trở thành một trong những nội dung cốt lõi để đào tạo giáo viên với mục đích đổi mới PPDH, nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo. Năm 2004, dạy học theo dự án lần đầu tiên đƣợc giới thiệu ở Việt Nam thông qua Chƣơng trình Dạy học của Intel với mục tiêu “phƣơng pháp phát huy việc học dựa trên dự án và kết hợp có hiệu quả việc sử dụng máy tính với các chƣơng trình dạy học hiện có” giúp học sinh đạt đƣợc kết quả học tấp tốt hơn. Bên cạnh đó, các giáo viên còn học cách tạo ra các công cụ đánh giá tối ƣu cũng nhƣ cách cân đối bài giảng với mục tiêu học tập [2, tr. Tuy nhiên việc áp dụng dạy học theo dự án trong hoạt động giảng dạy chƣa thực sự hiệu quả.
Năm 2008, chƣơng trình dạy học theo dự án của Việt –Bỉ đã đƣợc triển khai ở 14 tỉnh miền núi phía bắc. Trong dự án này các phƣơng pháp Học theo góc; Học theo hợp đồng; Học theo Dự án là nội dung chính để đào tạo cho giáo viên nhằm đổi mới phƣơng pháp dạy học góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo[6].