Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chương 2: Dạy học tác phẩm của Nam Cao theo hướng tiếp cận văn hóa Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái lƣợc về văn hóa 1. Khái niệm văn hóa Từ văn hóa theo nghĩa thuật ngữ bắt nguồn từ Châu Âu: “culture” (Pháp, Anh), “Kultur” (Đức), gốc của các từ này lại bắt nguồn từ chữ La tinh “Cultus”, có nghĩa nguyên là trồng trọt và nông nghiệp. Từ này cũng được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa gốc mang tính vật chất cụ thể là trồng trọt cây cối, nghĩa bóng mang tính trừu tượng, về mặt tinh thần đó là sự tự giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn con người.
Như vậy, “văn hóa” gắn liền với vệc giáo dục, đào tạo một con người hay một tập thể người để cho họ có được phẩm chất tốt đẹp, cần thiết cho cộng đồng. Văn hóa không phải là một cái gì vốn có tự thân mà là quá trình tiếp nhận giáo dục và lao động sáng tạo của con người. “Văn hóa là của con người, do con người và cho con người nên văn hóa gắn với cách nghĩ, cách nói, cách làm của con người mang tính xã hội mà bản chất của con người này là con người sáng tạo, đối lập với con người tự nhiên chỉ biết thừa hưởng một cách sinh vật mọi thứ từ tự nhiên. Chỉ khi con người tự nhiên chuyển sang con người xã hội thì lúc đó mới xuất hiện văn hóa.
Nói như Khổng Tử - nhà hiền triết Trung Hoa cổ đại thì văn hóa là cái hậu thiên chứ không phải cái tiên thiên. Theo các tài liệu nghiên cứu về văn hóa, trên thế giới hiện nay có đến gần 500 định nghĩa về văn hóa. Con đường ngắn nhất để hiểu văn hóa là điểm qua những khái niệm văn hóa với những biểu hiện đa dạng trong sắc màu của chính bản thân nó. Ở phương Đông, Khổng Tử trong sách Chu Dịch và Lưu Hán đời Tây Hướng đều từng quan niệm văn hóa là biến cải, biến đổi, bồi đắp theo chiều hướng của cái đẹp.
Ở phương Tây, định nghĩa đầu tiên của nhà nhân loại học người Anh: “Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng tập quán khác mà con người có được với tư cách thành viên của xã hội” [16, tr 44]. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cách hiểu về văn hóa của phương Đông hay phương Tây tuy có sự khác nhau, nhưng đều phản ánh tính giá trị, thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người, làm cho con người và xã hội ngày càng tiến bộ hơn, ngày càng rời xa trạng thái nguyên sơ, khẳng định tính người. UNESCO từ khi thành lập đến nay đã đưa ra một số định nghĩa về văn hóa. Theo tổ chức này, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, văn hóa giúp cho con người tự hoàn thiện, quyết định tính cách riêng của một xã hội làm cho dân tộc này khác dân tộc khác.
Bàn về văn hóa người ta còn cho rằng, đó là sự hiểu biết phát triển nội tại bên trong của một con người, một dân tộc, tạo ra mối quan hệ, biểu hiện trình độ “người” trong các quan hệ. Ở Việt Nam, định nghĩa về văn hóa cũng vô cùng phong phú. Tháng 8 năm 1943, Hồ Chí Minh định nghĩa về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày để mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm đáp ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Quan niệm của Hồ Chí Minh đã chỉ ra được nguồn gốc động lực và cấu trúc của văn hóa. Quan điểm này có tính kế thừa, phát triển các khái niệm văn hóa trước đó. Rõ ràng khái niệm văn hóa đã được nghiên cứu tiếp nhận theo nhiều góc nhìn, nhiều cách hiểu khác nhau.
Có thể nhận ra nội hàm khái niệm văn hóa bao gồm những nội dung sau: Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, phục vụ con người trong quá trình ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội, nhờ con người mà lưu trữ, truyền tải từ thế hệ này sang thế hệ khác; nó phải mang thuộc tính giá trị và đọng lại thành cách ứng xử; văn hóa là hoạt động mang tính biểu tượng, biểu tượng chính là “hạt nhân” của văn hóa, là hình thái biểu hiện của văn hóa; những hành động, những thành tựu và giá trị phải kết tinh thành bản sắc để qua đó giúp ta phân biệt được dân tộc và nhân loại; văn hóa là hệ thống gồm nhiều thành tố, trong đó có văn học. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các thuộc tính và chức năng của văn hóa 1. Tính hệ thống với các nội dung của văn hóa Đây là một thuộc tính quan trọng của văn hóa.
Nói đến hệ thống bao giờ người ta cũng nghĩ đến một tổ hợp hữu cơ bao gồm nhiều thành tố có quan hệ khăng khít với nhau, tương tác và chi phối lẫn nhau. Ba nội dung cơ bản của văn hóa là: Văn hóa nhận thức; Văn hóa ứng xử; Văn hóa tổ chức. Chúng kết hợp với nhau như một thể thống nhất hữu cơ. Ba nội dung của văn hóa cũng là ba mặt hoạt động cơ bản trong các thiết chế xã hội của loài người.
Trong các nội dung này, văn hóa nhận thức đóng vai trò chi phối chế ước tất cả, chẳng những thế, văn hóa còn tạo nên sự gắn kết cộng đồng, điều chỉnh cách thức tổ chức xã hội, cách thức ứng xử thích hợp nhất với môi trường tự nhiên và xã hội. Tính giá trị với các chức năng điều chỉnh xã hội Các giá trị của văn hóa theo mục đích có thể chia thành hai loại: giá trị vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất của con người, giá trị tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người. Dù là vật chất hay tinh thần cũng là con người qua lao động mà sản sinh ra. Theo nghĩa này, văn hóa được xem như một dạng hoạt động của con người và chỉ có ở con người, tuy nhiên cần phải hiểu rằng không phải bất cứ hoạt động sáng tạo nào cũng làm nên giá trị văn hóa.
Hoạt động lao động sáng tạo nào mang lại lợi ích cho con người mới được coi là hoạt động có giá trị văn hóa, còn hoạt động lao động sáng tạo nhưng không mang lại lợi ích cho con người thì không được coi là giá trị văn hóa (ví dụ chế tạo vũ khí hạt nhân, các vũ khí tối tân… là những hoạt động sáng tạo nhưng khó có thể coi là hoạt động có giá trị văn hóa). Tính giá trị của văn hóa cũng mang tính tương đối bởi theo thời gian có thể phân chia thành: giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời. Theo quan điểm đó cùng với lợi ích sử dụng: những cái mặt này được coi là giá trị, mặt khác lại không được coi là giá trị. Căn cứ vào thang giá trị mà xã hội thường xuyên xem xét điều chỉnh để không ngừng tự hoàn thiện mình.
Như thế văn hóa đã thực hiện một chức năng quan trọng là điều chỉnh xã hội. Từ việc điều chỉnh xã hội, văn hóa có chức năng bộ phận là định hướng các chuẩn mực, điều chỉnh các hành vi ứng xử của xã hội cũng như của 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com con người. Làm được điều này, văn hóa đã thực sự trở thành động lực cho sự phát triển xã hội, vì vậy Ủy ban văn hóa Thế giới UNESCO đã khẳng định: “Văn hóa giữ vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết của sự phát triển xã hội”. Tính lịch sử và chức năng giáo dục Đây là thuộc tính hàng đầu và mang tính chất bao trùm của văn hóa.
Một nền văn hóa bao giờ cũng được hình thành trong một quá trình tích lũy trong nhiều thế hệ và thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân bố, phân loại các giá trị và sáng tạo ra các giá trị mới. Cái đó tạo nên truyền thống văn hóa. Truyền thống văn hóa là gì? Đó là những giá trị văn hóa tương đối ổn định thể hiện những khuôn mẫu xã hội, được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, kết tinh ở phép nước lệ làng, các tín điều luân lý, các chuẩn mực giá trị, phong tục tập quán, lễ nghi luật pháp… Một truyền thống văn hóa mất đi phải chờ mấy thế hệ mới xây dựng lại được bởi vậy truyền thống văn hóa tồn tại được là nhờ giáo dục và giáo dục một cách thường xuyên liên tục và bằng nhiều biện pháp khác nhau (văn hóa không chỉ giáo dục con người bằng những giá trị truyền thống đã có mà còn bằng những giá trị đang hình thành và sẽ hình thành). Phải giáo dục con người về văn hóa cả con đường hữu thức lẫn vô thức, từ khi mới chào đời đến khi trưởng thành, giáo dục trực tiếp lẫn gián tiếp, giáo dục một cách đồng bộ cả nhà trường – gia đình – xã hội.
Vấn đề giáo dục con người bằng truyền thống văn hóa là vô cùng quan trọng bởi nó có ảnh hưởng đến giống nòi, dân tộc và đảm bảo tính kế tục của lịch sử. Tính nhân bản và chức năng giao tiếp Văn hóa là hoạt động sáng tạo của con người. Văn hóa là cái tự nhiên đã được biến đổi dưới sự tác động của con người. Nó là phần giao giữa tự nhiên với con người.
Con người tác động vào tự nhiên, sáng tạo văn hóa chính là nhằm phục vụ lợi ích của con người. Mỗi nền văn hóa có sắc thái riêng in đậm dấu ấn dân tộc, nhưng tất cả có một đặc điểm chung là vì con người và cuộc sống của con người. Nhờ đặc điểm chung đó mà văn hóa thực hiện được chức năng giao tiếp rộng rãi giữa con người với con người, giữa dân tộc này với dân tộc kia dù ngôn ngữ văn tự khác nhau, nhờ văn hóa loài người vẫn có thể hiểu nhau, thông cảm với nhau… 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.