CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.Khái niệm về tư duy Hiện thực xung quanh chúng ta có nhiều cái mà con người chưa biết. Nhiệm vụ của cuộc sống và hoạt động thực tiễn đòi hỏi con người phải hiểu biết cái chưa biết đó ngày một sâu sắc, đúng đắn và chính xác, phải vạch ra bản chất và những quy luật tác động của chúng. Quá trình nhận thức đó gọi là tư duy. Theo Nguyễn Quang Cẩn [1], tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính, bản chất mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết.
Theo Nguyễn Quang Uẩn [34], tư duy là quá trình tâm lý thuộc nhận thức lý tính là một mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác và tri giác. Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết. Theo từ điển triết học: “Tư duy, sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giới quan trong các khái niệm, phán đoán, lí luận. Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật.
Tư duy chỉ tồn tại trong mối liên hệ không thể tách rời khỏi hoạt động lao động và lời nói, là hoạt động chỉ tiêu biểu cho xã hội loài người cho nên tư duy của con người được thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với lời nói và những kết quả của tư duy được ghi nhận trong ngôn ngữ. Tiêu biểu cho tư duy là những quá trình như trừu tượng hóa, phân tích tổng hợp, việc nêu lên là những vấn đề nhất định và tìm cách giải quyết chung, việc đề xuất những giả thuyết, những ý niệm. Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ nào đó.” 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ đó, ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của tư duy như sau: - Tư duy là sản phẩm của bộ não con người và là một quá trình phản ứng tích cực thế giới khách quan. - Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ và được thể hiện qua ngôn ngữ.
- Bản chất của tư duy là ở sự phân biệt, sự tồn tại độc lập của đối tượng được phản ánh với hình ảnh nhận thức được qua khả năng hoạt động của con người nhằm phản ánh đối tượng. - Tư duy là quá trình phát triển năng động và sáng tạo. - Khách thể trong tư duy được phản ánh với nhiều mức độ khác nhau từ thuộc tính này đến thuộc tính khác, nó phụ thuộc vào chủ thể là con người. - Một đặc điểm nổi bật của tư duy là “tính có vấn đề”.
Tư duy chỉ nảy sinh và phát triển khi cần khắc phục khó khăn bằng các phương tiện trí óc, khó khăn này người ta gọi là tình huống có vấn đề. Tuy nhiên, không phải mọi tình huống có vấn đề đều có tác dụng kích thích và phát triển tư duy. Chỉ khi tình huống có vấn đề đó gợi nhu cầu nhận thức và nằm trong khả năng hiểu biết của chủ thể thì tư duy mới được hình thành và phát triển. Như vậy hiểu một cách thông thường, tư duy là suy nghĩ để nhận thức và giải quyết vấn đề.
Trong Toán học thường có các loại hình tư duy là: Tư duy biện chứng, tư duy logic, tư duy thuật toán, tư duy hàm, tư duy trừu tượng, tư duy sáng tạo. 109], tư duy toán học mang những nét độc đáo sau: - Suy luận theo sơ đồ lôgíc chiếm ưu thế - Khuynh hướng đi tìm con đường ngắn nhất đến đích - Phân chí rành mạch các bước suy luận - Sử dụng chính xác các kí hiệu. - Lập luận có căn cứ đầy đủ. Quá trình tư duy Tư duy là hoạt động trí tuệ với một quá trình bao gồm 4 bước cơ bản: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Xác định được vấn đề, biểu đạt nó thành nhiệm vụ tư duy.
Nói cách khác là tìm được câu hỏi cần giải đáp. - Huy động tri thức, vốn kinh nghiệm, liên tưởng, hình thành giả thiết về cách giải quyết vấn đề, cách trả lời câu hỏi. - Xác minh giả thiết trong thực tiễn. Nếu giả thiết không đúng thì chuyển qua bước sau, nếu sai thì phủ định nó và hình thành giả thiết mới.
- Quyết định đánh giá kết quả, đưa ra sử dụng. Các loại hình tư duy Theo Bùi Văn Nghị (2008) [23]: Trong quá trình học tập môn Toán, HS có thể được trang bị và rèn luyện các loại hình tư duy sau: Tư duy logic, tư duy trừu tượng, tư duy độc lập, tư duy, tư duy biện chứng… - Tư duy logic. Tư duy logic là một trong những kĩ năng không thể thiếu trong lĩnh hội các môn khoa học tự nhiên. Việc rèn tư duy logic cho HS còn là nhiệm vụ quan trọng.
- Tư duy trừu tượng: Với sự giúp sức của công nghệ thông tin, quá trình tạo tư duy trừu tượng cho học sinh được dễ dàng hơn… có thể nói, phát triển tư duy trừu tượng cho học sinh là một việc quan trọng, làm thế nào để học sinh tư duy đúng bản chất của hiện tượng, của quá trình là điều quan trọng… - Tư duy độc lập: Trong quá trình học tập, tư duy độc lập đối với HS là rất cần thiết, HS có thể rèn tư duy độc lập khi được thực hiện các nhiệm vụ vừa sức với mình. Phát triển tốt tư duy độc lập cho HS sẽ tạo điều kiện để các em nắm bắt vấn đề một cách tự nhiên theo đúng quy luật của quá trình nhận thức. - Tư duy biện chứng: Tất cả các hiện tượng đều xảy ra trong một quy luật biện chứng. Vậy rèn tư duy biện chứng cho học sinh cũng là nhiệm vụ của môn học.
- TDPP được hình thành và phát triển qua quá trình rèn luyện trí tuệ về các khả năng: phân tích thực tiễn, tổng quan và tổ chức hệ thống các ý tưởng, đối chiếu so sánh điểm tương đồng và dị biệt, nhận thức và cân nhắc thận 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trọng một sự kiện, một hiện tượng, lập luận kết hợp với chứng minh đầy đủ để có sức thuyết phục cao, để đánh giá suy nghĩ, đánh giá lập luận, đưa ra các phán đoán, rút ra một kết luận, quyết định hoặc chấp nhận, hoặc bác bỏ hoặc tạm ngừng. Tất cả những thái độ và hành động trên đều dựa vào cơ sở thu thập có chọn lọc kỹ lưỡng và phê phán nghiêm túc những thông tin, kinh nghiệm, những ý kiến khác nhau để tin tưởng, định hướng việc tìm ra giải pháp tối ưu, thực hiện có hiệu quả mỹ mãn. TDPP có vai trò quan trọng trong cả đời sống và học tập. TDPP sẽ giúp cho người học luôn tìm ra được hướng đi mới trong suy nghĩ và hành động, tránh rập khuôn, máy móc.
Khoa học luôn phát triển theo quy luật phủ định của phủ định, tuy nhiên luôn có tính kế thừa để phát triển. Do vậy, TDPP không chỉ là suy nghĩ mà là suy nghĩ tự cải thiện, tức là có sự tiến bộ trong suy nghĩ qua cách đánh giá tư duy thích hợp. - Tư duy sáng tạo: Tư duy sáng tạo là một hình thức tư duy cao nhất trong quá trình tư duy, việc tư duy sáng tạo giúp cho người học không gò bó trong không gian tri thức của người thầy đặt ra. Các bước của quá trình sáng tạo được tổng kết ở năm giai đoạn sau: Kích thích, khám phá, lập kế hoạch, hoạt động, tổng kết.
Các yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo: Tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo. Các thao tác tư duy Phân tích-tổng hợp: Phân tích là thao tác tư duy để phân chia đối tượng nhận thức thành các bộ phận, các mặt, các thành phần khác nhau. Còn tổng hợp là các thao tác tư duy để hợp nhất các bộ phận, các mặt, các thành phần đã tách rời nhờ sự phân tích thành một chỉnh thể. Phân tích và tổng hợp có quan hệ mật thiết không thể tách rời, chúng là hai mặt đối lập của một quá trình thống nhất.
Phân tích tiến hành theo hướng tổng hợp, tổng hợp được thực hiện theo kết quả phân tích. Trong học tập môn toán, phân tích - tổng hợp có mặt ở mọi hoạt động trí tuệ, là thao tác tư duy 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan trọng để giải quyết vấn đề. Có 5 nhà toán học nam, 3 nhà toán học nữ, 4 nhà vật lý nam. Lập một đoàn công tác 3 người cần có cả nam lẫn nữ, cả nhà toán học lẫn vật lý.
Hỏi có bao nhiêu cách lập đoàn công tác. Để giải được ví dụ này đòi hỏi các em học sinh phải có tư duy phân tích tổng hợp khéo léo trong cách suy diễn thì mới có lời giải. Trước hết đoàn công tác cần cả nam lẫn nữ sau lại phải có cả nhà toán học lẫn vật lý học mà ba nhóm đối tượng là Toán- nam; Toán- nữ. Do đó số lượng nhà vậy lý trong nhóm sẽ ảnh hưởng đến số cách chọn người nữ (nếu có 2 nhà vậy lý thì chắc chắn phải chọn thêm một nhà toán học nữ, nếu có một nhà vật lý thôi thì có nhiều lựa chọn hơn).
Bởi vậy ta sẽ phân chia trường hợp theo số lượng nhà khoa học các nghành: 2 toán- 1 lý và 2 lý- 1 toán. Sơ đồ công việc như sau: Trên cơ sở hướng phân tích, tổng hợp, sâu chuỗi lại và có lời giải gắn gọn là: Vì đoàn công tác có 3 người trong đó có cả nhà toán học lần vật lý học nên ta 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sẽ xét 2 trường hợp +1 nhà toán học và hai nhà vật lý học. Vì có cả nam và nữ nên nhà toán học phải là nữ ta có 3. C 42 =18 cách chọn +2 nhà toán học và 1 nhà vật lý học.
Ta lại có 2 trường hợp nhỏ Nếu 1 nhà toán học nam thì số cách chọn là 5.3=60 cách Nếu 2 nhà toán học đều là nữ thì số cách chọn là C 32 .4=12 cách Vậy số cách lập đoàn công tác là 18+60+12=90 cách. So sánh, tương tự: So sánh là thao tác tư duy nhằm xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng nhận thức.