CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm năng lực Hiện nay, năng lực (NL) được hiểu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau. NL trong tiếng Việt có thể xem tương đương với thuật ngữ “competence” trong tiếng Anh. Theo thông thường, NL là sự kết hợp tư duy, kĩ năng, thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng có thể học hỏi được của một cá nhân hay một tổ chức để thực hiện thành công nhiệm vụ (DeSeCo, 2002).
John Erpenbeck 1998: “NL được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm/ củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí.” OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002) đã xác định: “NL là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể.Weinert (2001) cho rằng: “NL là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. NL cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp… trong những tình huống thay đổi.” Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn NL là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức các kiến thức, kỹ năng và thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, … để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống. Cấu trúc năng lực Để hình thành và phát triển NL, ta cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng. Có nhiều loại NL khác nhau, việc mô tả cấu trúc và các thành phần NL cũng khác nhau.
NL hành động (Professional action competency) là sự kết hợp của bốn NL thành phần, đó là: NL chuyên môn, NL phương pháp, NL xã hội và NL cá thể. 10 Luan van Hình 1.1 - Mô hình cấu trúc năng lực hành động Trong đó: NL chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. NL phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức.
NL xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau với sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp. NL cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, suy nghĩ và đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân. Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến hành động tự chịu trách nhiệm.
Mô hình cấu trúc chung của NL phù hợp với bốn trụ cột giáo dục của UNESCO: 11 Luan van Năng lực Học để biết chuyên môn Các Năng lực thành Học để làm Các trụ phương pháp cột giáo phần của dục của năng lực UNESCO Năng lực xã Học để cùng hội chung sống Năng lực cá Học để tự thể khẳng định Hình 1.2 - Mô hình các thành phần năng lực tương ứng với bốn trụ cốt giáo dục theo UNESCO Từ cấu trúc của khái niệm NL cho thấy giáo dục định hướng phát triển NL không chỉ nhằm mục tiêu phát triển NL chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển NL phương pháp, NL xã hội và NL cá thể. Những NL này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Phát triển năng lực cho học sinh trung học cơ sở Năng lực học sinh (NLHS) là sự kết hợp hài hòa giữa kiến thức – kĩ năng – thái độ, thể hiện ở khả năng hành động hiệu quả, muốn hành động và sẵn sàng hành động để đạt mục tiêu đã đề ra. NLHS còn là khả năng hành động, ứng dụng, vận dụng tri thức vào bối cảnh thực.
Nó được hình thành và phát triển trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trong và ngoài lớp học. Những NL cốt lõi Những NL HS cần có được chia làm hai nhóm (theo OECD): NL chung và NL chuyên môn. NL chung: là NL cơ bản, thiết yếu giúp cá nhân có thể sống, làm việc và tham gia hiệu quả trong nhiều hoạt động vào các bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội. NL chung có được từ các môn học và hoạt động giáo dục.
12 Luan van NL chuyên môn: là những NL được hình thành và phát triển trên cơ sở các NL chung theo hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của các lĩnh vực học tập như ngôn ngữ, toán học, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, công nghệ, nghệ thuật, đạo đức - giáo dục công dân, giáo dục thể chất. Với đặc thù của môn vật lí, đây là một môn khoa học vừa có lí thuyết và thực nghiệm nên nó có các NL chuyên môn sau: NL sử dụng ngôn ngữ vật lí, NL thực hành thí nghiệm vật lí, NL tính toán vật lí, NL tư duy vật lí, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo thông qua môn vật lí, NL vận dụng kiến thức vật lí vào cuộc sống. Các phương pháp đánh giá năng l ực NL là một thể thống nhất bao gồm kiến thức, kĩ năng và thái độ không tách biệt lẫn nhau. Do đó đánh giá theo năng lực (ĐGNL) là việc đánh giá dựa trên khả năng thực hiện một nhiệm vụ ở một mức độ phức tạp thích hợp để tìm ra cách giải quyết một hoặc nhiều vấn đề để đạt tới mục tiêu có được kiến thức có thể áp dụng trong nhiều tình huống phức tạp khác nhau trong thực tế cuộc sống.
ĐGNL HS chính là đánh giá khả năng vận dụng, thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, thực tế… và phát triển tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá) của học sinh chứ không dừng lại ở mức độ đánh giá phân hóa riêng rẽ các phương diện kiến thức, kĩ năng, thái độ. Theo Nguyễn Công Khanh: “Đánh giá HS theo cách tiếp cận NL là đánh giá theo chuẩn về sản phẩm đầu ra… nhưng sản phẩm đó không chỉ là kiến thức, kĩ năng mà chủ yếu là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ cần có để thực hiện nhiệm vụ học tập đạt tới một chuẩn nào đó”. Như vậy, ĐGNL HS theo cách hiểu này đòi hỏi phải đáp ứng hai điều kiện chính là: phải có sản phẩm đầu ra và sản phẩm đó phải đạt được một chuẩn nào đó theo yêu cầu. ĐGNL của HS theo một trong 2 cách sau [2]: Cách 1: GV yêu cầu HS thực hiện một hoạt động trọn vẹn rồi đánh giá NL qua mức độ thực hiện hoạt động đó.
13 Luan van Cách 2: Phân tích NL của chủ đề ra thành các kiến thức, kĩ năng rồi lựa chọn những kiến thức kĩ năng chủ yếu, trọng tâm để đánh giá. Theo quan điểm phát triển NL, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá. ĐGNL cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau. Đặc trưng của ĐGNL là sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, tập trung đánh giá NL hành động, vận dụng thực tiễn, giải quyết vấn đề, NL tự học, NL giao tiếp, NL ngôn ngữ, NL phát triển bản thân.
Vì vậy, trong ĐGNL ngoài phương pháp đánh giá truyền thống như đánh giá chuyên gia (GV đánh giá HS), đánh giá định kì bằng bài kiểm tra thì GV cần kết hợp với các hình thức đánh giá không truyền thống như: - Đánh giá bằng quan sát. - Đánh giá bằng phỏng vấn sâu (vấn đáp). - Đánh giá bằng hồ sơ học tập. - Đánh giá bằng sản phẩm học tập (powerpoint, tập san, …) - Đánh giá bằng phiếu hỏi HS.
Năng lực ngôn ngữ 1. Khái niệm năng lực ngôn ngữ Ngôn ngữ là công cụ của tư duy, là phương tiện giao tiếp. Ngôn ngữ bao gồm tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai hay còn gọi là ngoại ngữ. Ngoài ra, NLNN còn được thể hiện ở các kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết), là khả năng của một cá nhân hiểu và giải quyết có hiệu quả các tình huống, nhiệm vụ trong học tập thông qua việc sử dụng ngoại ngữ.
Cấu trúc của năng lực ngôn ngữ NLNN bao gồm NL tổ chức và NL ứng dụng thực tế. + NL tổ chức (Organizational competence) nghĩa là người học có khả năng sắp xếp được những yếu tố nhỏ nhất có ý nghĩa của từ, sắp xếp các từ và câu để tạo nên câu có nghĩa. NL tổ chức bao gồm NL ngữ pháp và NL tạo văn bản. NL ngữ pháp (Grammatical competence) là người học có khả năng sắp xếp ngôn ngữ ở mức độ câu.
14 Luan van NL tạo văn bản (Textual competence) là khả năng tổ chức ngôn ngữ ở ở độ kết cấu. Các câu trong một đoạn văn phải liên kết với nhau theo một trật tự hợp lý và có khả năng thuyết phục. + NL ứng dụng (Pragmatic competence) là khả năng sử dụng ngôn ngữ theo cách thích hợp với xã hội. NL ứng dụng gồm NL ngụ ý và NL ngôn ngữ xã hội.
NL ngụ ý (Illocutionary competence) là khả năng diễn đạt ý tưởng của mình, yêu cầu người khác làm điều mình muốn, sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt những ý trừu tượng. NL ngôn ngữ xã hội (Sociolinguistic competence) là khả năng ngôn ngữ được chấp nhận về mặt văn hóa, xã hội, địa phương. Dạy học song ngữ 1. Khái niệm quá trình dạy học Dạy học là hoạt động đặc trưng nhất, chủ yếu nhất của nhà trường, diễn ra theo một quá trình nhất định gọi là quá trình dạy học (QTDH).
Đó là một quá trình xã hội bao gồm và gắn liền vowus hoạt động dạy và hoạt động học, trong đó HS tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển và điều chỉnh hoạt động nhận thức của mình dưới sự điều khiển chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn của GV nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học.