phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn. Các biện pháp sƣ phạm dạy học phân hóa nội dung hàm số lớp 10. Thực nghiệm sƣ phạm.
4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới Phân hóa trong giáo dục là một nguyên tắc đã đƣợc thực hiện từ lâu ở mọi nền giáo dục, mọi thời kỳ với những yêu cầu, mức độ và hình thức khác nhau. Đây là định hƣớng giáo dục nhằm đảm bảo các đối tƣợng học sinh khác nhau về hoàn cảnh, đặc điểm tâm – sinh lý, khả năng, nhu cầu và hứng thú, sở thích cá nhân có cơ hội học tập với phƣơng pháp dạy học phù hợp để có thể phát triển tối đa điều kiện và tiềm năng của bản thân.
Từ những năm 80 của thế kỉ XX, trên thế giới thực hiện cải cách giáo dục lần thứ ba, tƣ tƣởng giáo dục của các nƣớc có sự thay đổi. Giáo dục đại chúng dần thay thế cho giáo dục tinh hoa. Các quốc gia quan tâm đến việc hình thành các phẩm chất và năng lực cho thế hệ trẻ và ngƣời lao động về ý thức trách nhiệm, tính tích cực chủ động, năng động sáng tạo, thích ứng nhanh với những sự đổi mới, phát huy cá tính, bản sắc của ngƣời học. Chƣơng trình cốt lõi thống nhất trong toàn quốc đƣợc thực hiện, trao quyền tự chủ cho địa phƣơng; trƣờng học, nhà giáo, học sinh, sinh viên quyết định vận dụng linh hoạt phần còn lại.
Giáo dục đƣợc đầu tƣ mạnh mẽ, thực hiện dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa để nâng cao chất lƣợng, mang tính nhân văn. Trên thế giới, xu hƣớng chung dạy học phân hóa ở nhiều quốc gia là định hƣớng hoặc phân luồng cho các môn tự chọn. Các nƣớc cũng chú ý tới việc xác định và quy định môn học bắt buộc, môn học tích hợp từ một số môn. Môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội có nội dung không hàn lâm, gắn chặt với thực tế cho học sinh sự hiểu biết rộng, có tầm nhìn sự vật, hiện tƣợng với nhiều phƣơng diện tổng hợp.
Xu thế dạy học phân hóa kết hợp chặt chẽ với dạy học tích hợp giúp đảm bảo một nền giáo dục hài hòa, toàn diện, mới mẻ, chuyên sâu và hợp lí. 5 Nhiều quốc gia đã áp dụng phân hóa trong giáo dục và đạt đƣợc nhiều thành tựu. Tại Nga, hệ thống giáo dục chính quy bao gồm: Giáo dục tiền học đƣờng (giáo dục mầm non), giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học. Giáo dục phổ thông 11 năm, bao gồm ba giai đoạn: cấp tiểu học (lớp 1-4), cấp THCS (lớp 5-9) và THPT hoàn chỉnh (lớp 10-11).
Giáo dục nghề nghiệp bao gồm: Hệ sơ cấp 3 năm (nhận học sinh học xong THCS) và Hệ trung cấp 3 năm (nhận học sinh học xong trung học hoàn chỉnh và học sinh học xong nghề hệ sơ cấp). Giáo dục đại học hệ 5 năm đào tạo chuyên gia với văn bằng tốt nghiệp. Giáo dục sau đại học gồm: đào tạo thạc sĩ 2 năm, đào tạo phó Tiến sĩ khoa học 3 năm, học vị cao nhất là Tiến sĩ khoa học, thời gian làm Tiến sĩ khoa học là 2 năm. Bên cạnh đó là hệ thống giáo dục bổ túc (gồm bổ túc văn hóa và nghề nghiệp).
Ở THPT, các trƣờng tại Nga phân ban theo 4 loại hình: Ban Khoa học tự nhiên, Ban Nhân văn – Ngoại ngữ, Ban Xã hội – Kinh tế, Ban Công nghệ. Có thể kể đến nhƣ Singapore, đƣợc mệnh danh là con rồng của Châu Á. Tuy là một đảo quốc nhỏ bé nhƣng Singapore luôn đặt giáo dục làm trọng tâm. Hệ thống giáo dục của Singapore đƣợc phát triển dựa trên cơ sở: mỗi học sinh, sinh viên đều có những năng khiếu, sở trƣờng và sở thích riêng biệt.
Giáo dục đƣợc áp dụng linh hoạt để học sinh có thể thể hiện hết tài năng của bản thân một cách tối đa, từ đó giúp mỗi cá nhân nhận ra bản sắc của chính mình, khám phá ƣu thế bản thân. Một số nƣớc có nhấn mạnh thêm một số yếu tố khác biệt. Hàn Quốc chú ý tới giáo dục những công dân toàn cầu, chú trọng tới giáo dục các giá trị truyền thống. Malaysia, Hàn Quốc chú ý tới giáo dục đạo đức, giáo dục ý thức trách nhiệm đối với gia đình, với cộng đồng và với xã hội.
Malaysia có đề cập tới giáo dục niềm tin vào Chúa. Ở các nƣớc có nghiên cứu, chƣơng trình đƣợc kết cấu theo các thành phần: Các lĩnh vực chung (bao gồm cả các môn không thi) là bắt buộc đối với mọi học sinh, các yếu tố cốt lõi bắt buộc; các môn tự 6 chọn; tự học, hoạt động trải nghiệm trong hoạt động cộng đồng. Các yếu tố này đƣợc kết cấu trong chƣơng trình chung cho mọi học sinh. Lĩnh vực học tập mới nhƣ xử lí thông tin, kĩ năng tƣ duy và giao tiếp, các kĩ năng (bao gồm cả giáo dục công dân và giáo dục tính cách) đƣợc bổ sung để đáp ứng đòi hỏi của giáo dục đại học hoặc cuộc sống lao động.
Chƣơng trình các nƣớc đều ý thức đƣợc tầm quan trọng của việc khuyến khích sự đa dạng và sự sáng tạo. Ở hầu hết các nƣớc, các kiến thức cốt lõi đƣợc xác định dành cho giai đoạn Giáo dục bắt buộc gồm tiếng quốc gia, toán, lĩnh vực nhân văn (lịch sử, địa lí, nghiên cứu xã hội, giáo dục công dân), giáo dục thể chất/thể thao (gồm thêm giáo dục sức khỏe ở vài nƣớc), các môn tự nhiên hoặc môn tự nhiên tích hợp, các môn nghệ thuật (mỹ thuật, âm nhạc, nhảy, kịch) và tiếng nƣớc ngoài (không phải tất cả các môn đều thi). Các yếu tố chung quán triệt suốt các nội dung giáo dục gồm: Tính toán và giao tiếp, kĩ năng về thông tin bao gồm cả công nghệ thông tin và truyền thông, giải quyết vấn đề, kĩ năng học tập, các kĩ năng cá nhân, kĩ năng xã hội và làm việc theo nhóm, quan hệ công dân và nhận thức về trách nhiệm công dân, các giá trị văn hóa và xã hội, các kiến thức và kĩ năng gắn với việc làm và tƣ duy sáng tạo. Dạy học phân hóa ở THPT theo hƣớng tự chọn là xu hƣớng chung ở tất cả các nƣớc.
Việc dạy học tự chọn cho phép tới THPT, học sinh chỉ học một số môn cốt lõi nhất nhƣ ngôn ngữ quốc gia, toán, ngoại ngữ, còn lại là các môn, các chủ đề tự chọn. Học sinh học sâu thêm các điều đã học trong lĩnh vực giáo dục bắt buộc và các môđun nâng cao ở các môn đặc thù. Trong số các nƣớc đƣợc nghiên cứu, chỉ có Nga và Phần Lan vẫn tổ chức dạy học phân ban ở THPT. Về mục tiêu giáo dục trung học phổ thông, nói chung, mục đích, mục tiêu giáo dục có thể đƣợc nhóm lại theo 5 lĩnh vực chính bao gồm: Phát triển cá nhân (phát triển các xu hƣớng, năng khiếu của cá nhân); Kinh tế (Khả năng 7 đáp ứng nhu cầu làm việc, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế quốc gia, đặc biệt trong quan hệ với các nƣớc Châu Âu và trong cạnh tranh quốc tế.
Ở New Zealand, cạnh tranh cùng với hợp tác là một trong những kĩ năng mong đợi ở học sinh đƣợc nhấn mạnh); Văn hóa và xã hội (Khả năng hội nhập, phát triển một xã hội lành mạnh, công bằng xã hội ý thức đƣợc về sự đa dạng văn hóa, ngôn ngữ của xã hội, ý thức về di sản đa văn hóa; đẩy mạnh giáo dục dân chủ và giáo dục công dân); Kiến thức, kĩ năng, chuẩn mực (Phát triển các chuẩn mực, kích thích sự sáng tạo, nhấn mạnh toán học và các môn khoa học, công nghệ thông tin, chuẩn bị tới xã hội tri thức); Mở rộng việc học tập (Mở rộng việc học sau giáo dục bắt buộc, chuẩn bị cho học tập suốt đời, vì vậy năng lực học tập suốt đời đƣợc đề cập đến ở nhiều nƣớc). Hầu hết các nƣớc đều đặt giáo dục nghề - hƣớng nghiệp cho học sinh giai đoạn THPT. Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng và quan tâm đến giáo dục đào tạo con ngƣời. Trong tƣ tƣởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục tiêu của nền giáo dục mới và nhà trƣờng mới là học để làm việc, làm ngƣời, làm cán bộ; học để phụng sự và phát triển đoàn thể, giai cấp, nhân dân, Tổ quốc và nhân loại.
Dạy học phân hóa ở nƣớc ta đã đƣợc thực hiện từ lâu nhƣng mức độ vận dụng và thực hiện còn hạn chế cùng các giải pháp chƣa phù hợp nên dạy học phân hóa chƣa đem lại hiệu quả. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, miền Bắc tiếp quản nền giáo dục, dựa trên nền giáo dục của Pháp. Hệ giáo dục phổ thông sửa đổi thành hệ 11 năm với cấp tiểu học 4 năm, cấp trung học 7 năm, trung học bậc cao chia làm 3 ban. Đến năm 1950, cải cách giáo dục lần thứ nhất xóa bỏ hệ phân ban, tiến hành hệ 10 năm với 3 cấp học.
Năm 1979, Bộ Chính trị ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết về cải cách giáo dục, bắt đầu từ giáo dục phổ thông, cùng với đó là tiến hành bồi dƣỡng cán bộ giáo viên, theo hƣớng 8 cải cách giáo dục, từng bƣớc cải cách sƣ phạm. Công cuộc đổi mới toàn diện giáo dục ở Việt Nam bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12/1986. Chủ trƣơng của ngành giáo dục trong thời kỳ này là đa dạng hóa các loại hình trƣờng, lớp, các hình thức đào tạo; ban hành quy chế các trƣờng, lớp dân lập, tƣ thục. Các địa phƣơng hình thành hệ thống trƣờng chuyên lớp chọn bắt đầu từ một vài lớp phổ thông chuyên của các trƣờng đại học.
Quan niệm cá biệt hóa, phân hóa đã dần thay thế quan niệm cũ mang tính bình quân trong giáo dục. Năm 1992, Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định tổ chức thí điểm phân hóa bằng hình thức phân ban. Năm học 2006 – 2007, cấp học trung học phổ thông có sự thay đổi, học sinh đƣợc phân ban ngay từ lớp 10, điều chỉnh thành 3 ban: Ban khoa học tự nhiên, ban khoa học xã hội và ban cơ bản.