Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH 1. Năng lực và năng lực tự học 1. Khái niệm năng lực. Năng lực là một phạm trù thường được nhắc trong mọi lĩnh vực của đời sống và xã hội.
Theo giáo dục học và tâm lí học, năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt. NL vừa là tiền đề, vừa là kết quả của hoạt động. NL vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy (kinh nghiệm, trải nghiệm) Theo từ điển tiếng Việt: “NL là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. NL là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao.” Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [1], “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” 1.
Khái niệm tự học và năng lực tự học. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về TH: Theo từ điển Giáo dục học, TH là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV và sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo. Theo Lê Khánh Bằng: “TH là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một số lĩnh vực khoa học nhất định”. [5] Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “TH là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (so sánh, quan sát, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó 10 của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”.
[8] Các quan điểm TH trên đều có các điểm chung: TH là hoạt động độc lập của người học nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, những kinh nghiệm để hoàn thiện nhân cách của bản thân; TH do bản thân ý thức được nhiệm vụ học tập, tự đưa ra kế hoạch học tập và làm chủ trong việc xác định mục đích, nội dung, cách thức học; TH có thể diễn ra cả ở trên lớp và ngoài lớp. Năng lực tự học (NLTH) có thể được hiểu là khả năng huy động, tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân như hứng thú, niềm tin, ý chí… để thực hiện thành công việc chiếm lĩnh tri thức khoa học cũng như thực hiện thành công việc vận dụng tri thức đã học để giải quyết được các vấn đề thực tiễn có liên quan trong một bối cảnh nào đó. HS có NLTH sẽ tự xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập, nỗ lực phấn đấu thực hiện; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc lời góp ý của GV, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập. Nguyễn Cảnh Toàn đưa ra quan niệm về năng lực tự học như sau: “Năng lực tự học được hiểu là một thuộc tính kỹ năng rất phức hợp.
Nó bao gồm kỹ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra. [8] Do vậy, việc dạy học môn học theo hướng phát triển năng lực nói chung và NLTH nói riêng chính là cần tích cực hóa cả về hoạt động trí tuệ lẫn chú ý rèn luyện năng lực thực hiện hoạt động TH gắn với giải quyết vấn đề của thực tiễn. Việc phát triển năng lực tự học thực chất là giao nhiệm vụ, tổ chức, quản lý việc thực hiện nhiệm vụ tự học của HS ở nhà và trên lớp. HS sẽ tự chiếm lĩnh kiến thức và hình thành các phẩm chất năng lực cho bản thân dưới sự hướng dẫn của GV.
Cấu trúc năng lực tự học. Trên cơ sở NLTH là một NL thành phần của NL tự chủ, tự học của Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 của Bộ Giáo dục và đào tạo [1], dựa theo khung năng lực do PGS. Nguyễn Văn Biên đưa ra trong tạp chí khoa học năm 2016 [9], cấu trúc năng lực tự học được thể hiện như sau: 11 Xác định mục tiêu Xác định được mục tiêu bài học. học tập Lập kế hoạch học Định hướng được các hoạt động tập để thực hiện mục tiêu bài học.
NĂNG LỰC TỰ HỌC Thực hiện kế hoạch Đọc sách giáo khoa, tự tìm và xem học tập các clip bài giảng, thí nghiệm và soạn bài trước. Tự đánh giá và Nhận ra được những mục tiêu chưa điều chỉnh việc học đạt và có kế hoạch điều chỉnh. Rút kinh nghiệm và điều chỉnh cách học. Sơ đồ cấu trúc NLTH ❖ Các thành tố của năng lực tự học.
Các thành tố của năng lực tự học Thành tố Mô tả HS xác định được mục đích, mục tiêu hành động, nội dung và cách thức TH, hình thành ý thức về nhu cầu học tập, từ đó tự xây 1. Xác định mục dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn. Có động cơ học tập tốt tiêu học tập khiến cho HS tự giác say mê, học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng, tự thân học tập do niềm yêu thích của bản thân, để có thể TH lâu dài và bền vững. HS phải biết cách lập kế hoạch TH khoa học, vừa sức và khả thi: lên danh mục các nội dung cần TH, khối lượng và yêu cầu cần đạt được, các hoạt động cần phải tiến hành, sản phẩm cụ thể cần phải được tạo ra, thời gian dành cho mỗi nội dung và hoạt động.
Lập kế hoạch Khi lập kế hoạch, cần bao gồm cả các phương án phụ, dự kiến tự học khắc phục các trở ngại đột xuất về thời gian, ngoại cảnh, yêu cầu chung,… Ngoài ra HS cần biết cách lựa chọn hình thức TH, quyết định cách thức chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng cho mình, phù hợp với 12 trình độ tiếp thu, với tài liệu để duy trì động lực TH như TH cá nhân, đôi bạn học tập, nhóm, học với tài liệu, với bài giảng đa phương tiện, máy tính… 3. Tiến hành kế HS thể hiện khả năng lựa chọn các tài liệu thích hợp, sử dụng các hoạch tự học phương pháp nhận thức phổ biến trong học tập vật lí, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề học tập như: làm bài tập vận dụng, bài thực hành, thí nghiệm, thực nghiệm, báo cáo, thuyết trình,… giúp tri thức có được không dễ quên mà bền vững, thường xuyên được bổ sung, mở rộng, đào sâu, làm giàu tri thức cá nhân. Đánh giá điều HS phát triển khả năng đánh giá điều chỉnh hoạt động học, tự chỉnh hoạt động nhận biết mức độ tiếp thu của mình và điều chỉnh phương pháp học TH thích hợp như: tự trắc nghiệm bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan; trắc nghiệm tự luận, hoặc tự so sánh kết quả học tập của mình với kết quả đúng được GV xác nhận ❖ Thiết lập chỉ số hành vi của năng lực tự học. Chỉ số hành vi của năng lực tự học Thành tố Chỉ số hành vi 1.
Xác định kiến thức, kĩ năng cần học tiêu học tập 1. Xác định kiến thức kĩ năng liên quan đã có, đã biết 2. Lập kế hoạch 2. Xác định phong cách bản thân tự học 2.
Lựa chọn phương pháp học tập 2. Lập thời gian biểu tự học 3. Tiến hành kế 3. Làm việc với tài liệu hoạch tự học 3.
Làm việc với người hỗ trợ 3. Rèn luyện trên đối tượng vật chất 4. Đánh giá điều 4. Đánh giá được kết quả của bản thân chỉnh hoạt động 4.
Đánh giá điều chỉnh được kế hoạch học tập học 13 1. Các biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học. Để HS biết cách tự học, hình thành và phát triển NLTH, GV phải luôn luôn yêu cầu HS tự lực học tập, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức, khuyến khích HS nỗ lực tham gia hoạt động nhóm, mạnh dạn đưa ra các ý kiến, các đề xuất, các phê phán của bản thân. GV cần sử dụng các phương pháp dạy học tích cực như nêu vấn đề; tình huống có vấn đề; phương pháp thực nghiệm,… nhằm tạo động cơ, hứng thú học tập, rèn luyện kĩ năng, thói quen ý chí tự học cho HS, giúp HS tự tìm kiếm, khám phá tri thức mới chất lượng và hiệu quả cao hơn.
Các biện pháp có thể bồi dưỡng NLTH cho HS: - Biện pháp 1: Xây dựng và duy trì động cơ học tập cho HS. - Biện pháp 2: Xây dựng phương tiện học liệu tự học để HS có thể học tập mọi lúc, mọi nơi phù hợp với điều kiện và sở thích cá nhân. - Biện pháp 3: Xây dựng các nội dung học tập hấp dẫn, trực quan, phù hợp với năng lực nhận thức của HS. - Biện pháp 4: Tạo điều kiện cho HS tự đánh giá được kết quả học tập của mình sau mỗi lần học.
- Biện pháp 5: Nội dung bài học trên lớp không được lặp lại nội dung đã tự học ở nhà mà là sự tiếp nối, phát triển, hoàn thiện kiến thức, kĩ năng của HS và định hướng tự học. Mô hình lớp học đảo ngược 1. Khái quát về mô hình lớp học đảo ngược Lớp học đảo ngược là sự kết hợp, pha trộn của hai hình thức: dạy học giáp mặt (F2F) và dạy học trực tuyến (e-Learning). Theo hình thức này, e-Learning được thiết kế với mục đích hỗ trợ QTDH và chỉ quan tâm tới những nội dung, chủ đề phù hợp nhất với thế mạnh của loại hình này.
Những nội dung học tập khác vẫn được tổ chức theo hình thức dạy học F2F.