CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP 1.1 Những yêu cầu và định hướng cơ bản đổi mới giáo dục kỹ thuật 1.1 Mục đích của đào tạo nghề Hình thành ở người học kĩ năng nghề theo yêu cầu xã hội và phát triển toàn diện con người. [7] Kĩ năng hoạt động nghề được hình thành trên cơ sở: - Kĩ năng chuyên môn (A) : khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn có hiệu quả cao trên cơ sở của việc sử dụng kỹ thuật và khả năng chuyên môn - Kĩ năng phương pháp (B) : khả năng sử dụng phương pháp và chiến lược thích hợp nhằm giải quyết nhiệm vụ đề ra. - Kĩ năng xã hội (C) : là sự phát triển của cá nhân theo chiều hướng tích cực, mặt khác là khả năng giao tiếp thông qua đó có được thái độ và hành vi định hướng tập thể trong cộng đồng xã hội.2 Đổi mới tư duy giáo dục kỹ thuật trong phát triển nguồn nhân lực Góp phần quan trọng vào phát triển nguồn nhân lực. Phù hợp với nhu cầu và gắn với thị trường lao động và việc làm, với mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi toàn quốc cũng như từng địa phương.
Phải do nhiều bên liên đới cùng thực hiện.3 Đổi mới về mục tiêu, nội dung giáo dục kỹ thuật a. Những giá trị và phẩm chất đạo đức cần nhấn mạnh: đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, tinh thần hợp tác, làm việc theo nhóm, ý thức kỷ luật. Hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành với ba cấp trình độ [7]: - Bán lành nghề: Thực hiện những công việc cơ bản của nghề một cách độc lập. - Lành nghề: Thực hiện những công việc phức tạp của nghề một cách độc lập.
Có thể đảm nhận trách nhiệm giám sát hay điều chỉnh quá trình làm việc và đánh giá được chất lượng sản phẩm. - Trình độ cao: Thực hiện những công việc phức tạp của nghề một cách độc lập và sáng tạo. Có thể quản lý, chỉ đạo hoạt động của một tổ, nhóm sản xuất. Xây dựng nội dung chương trình theo mô đun: Mô đun là một đơn vị học tập liên kết tất cả các thành phần kiến thức liên quan trong các môn học lý thuyết với các kỹ năng để tạo ra một năng lực chuyên môn[7].
Đặc trưng của mô đun là o Định hướng vấn đề cần giải quyết – Năng lực thực hiện công việc o Định hướng trọn vẹn vấn đề - Tích hợp nội dung o Định hướng làm được – Theo nhịp độ người học o Định hướng đánh giá liên tục hiệu quả - Học tập không rủi ro o Định hướng lắp ghép phát triển.4 Yêu cầu về qui mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục kỹ thuật Qui mô, cơ cấu hợp lý ( cơ cấu trình độ, nghề nghiệp, vùng miền. ) Chất lượng cao và khả năng hành nghề. Hiệu quả đào tạo 14 1.5 Đổi mới quản lý giáo dục kỹ thuật Quản lý Nhà nước Hệ thống giáo dục bảo đảm chất lượng 1.6 Hai lối tiếp cận trong đào tạo nghề 1.1 Tiếp cận truyền thống trong đào tạo nghề Với tiếp cận truyền thống, người ta phân biệt hai khối nội dung cần đào tạo là kiến thức và kỹ năng. Đây được coi là hai thành phần chính tạo nên năng lực của một người lao động, bên cạnh thành phần thứ ba là thái độ thường được lồng vào hai thành phần đầu.
Đơn vị của kiến thức là khái niệm và đơn vị của kỹ năng là thao tác. Hệ thống khái niệm cần thiết cho một nghề thể hiện trong các môn học lý thuyết. Hệ thống các kỹ năng lao động kỹ thuật thể hiện trong các môn học thực hành. Hai khối kiến thức trên thường được đào tạo tách biệt nhau cả về địa điểm và trình tự.
Khi sắp xếp kế hoạch dạy học, người ta ưu tiên cho logic của mỗi khối kiến thức rồi sau đó mới tính đến trật tự phối hợp giữa hai khối. Khi thực hiện đào tạo theo tiếp cận truyền thống, mỗi khối kiến thức có một loại bài học đặc trưng: bài học lý thuyết và bài học thực hành. Cấu trúc dạy lý thuyết thường được dựa trên lý thuyết/mô hình học tập về sự nhận thức. Cấu trúc dạy thực hành thường được dựa trên trên lý thuyết/mô hình học tập liên quan đến thuyết hành vi.
Sau này, người ta cố gắng kết hợp một trong các lý thuyết/mô hình học tập ấy với lý thuyết kiến tạo để tạo nên môi trường và cấu trúc dạy học tích cực hơn, tuy nhiên sự phân biệt hai khối kiến thức, hai kiểu dạy học thì vẫn không thay đổi. Tương ứng với những điều trên, nội dung đào tạo sư phạm cho giáo viên dạy nghề cũng phân biệt cấu trúc bài học và phương pháp dạy lý thuyết khác với dạy thực hành. 15 Một trong những nhược điểm của tiếp cận truyền thống là tạo nên những hệ thống đào tạo tốn thời gian, chi phí, năng lực nghề nghiệp của người học sau khi tốt nghiệp khá thấp, không phù hợp với nhu cầu xã hội và mất rất nhiều công sức để đào tạo lại.2 Tiếp cận đào tạo theo năng lực thực hiện Để người học có thể nhanh chóng hòa nhập thực tế sản xuất, có năng lực đáp ứng với các tiêu chuẩn của doanh nghiệp/công ty, rút ngắn thời gian đào tạo. đa phần các hệ thống dạy nghề trên thế giới hiện nay chuyển sang tiếp cận theo năng lực thực hiện.
Với tiếp cận đào tạo theo năng lực thực hiện, nội dung đào tạo là năng lực giải quyết các nhiệm vụ sản xuất tại một vị trí làm việc trong doanh nghiệp/công ty. Đơn vị của năng lực thực hiện là các thành tố năng lực, mà các thành tố này xác định bởi công việc mà người lao động phải thực hiện. Để thực hiện một công việc, người lao động cần phải có: - Khả năng sử dụng các công cụ lao động và tư liệu sản xuất để làm ra sản phẩm/bán thành phẩm theo các tiêu chuẩn kỹ thuật qui định (SKILL) _ sự thực hiện - Biết tại sao phải làm như thế cũng như tại sao làm khác sẽ hư hỏng (KNOWLEDGE) _ kiến thức - Làm việc với đầy đủ ý thức, tinh thần trách nhiệm trong sự liên đới xã hội (ATTITUDE) _ thái độ. Như thế, nội dung đào tạo theo năng lực thực hiện không phải là hệ thống khái niệm, hệ thống kỹ năng, nhưng là hệ thống năng lực thực hiện nhiệm vụ sản xuất.
Địa điểm đào tạo theo năng lực thực hiện có thể là trong nhà trường hay tại nơi làm việc. Tiêu chuẩn đánh giá đào tạo theo năng lực thực hiện được xác định từ năng lực của người lao động lành nghề trong sản xuất, nên sau khi kết thúc đào tạo người học có thể đảm đương luôn vị trí lao động tương ứng 16 Bảng 1.1 :Các đặc trưng cơ bản phân biệt giữa đào tạo theo Năng lực thực hiện và đào tạo theo truyền thống Đặc trưng Đào tạo theo Năng lực Đào tạo theo truyền thực hiện thống Người học học cái gì ? -Theo các kết quả riêng -Theo sách giáo khoa, tài biệt, được trình bày chính liệu tham khảo xác ( Năng lực thực hiện -Người học không biết hoặc công việc then chốt chính xác họ sẽ học cái gì để làm việc thành công ) trong mỗi phần của -Những Năng lực thực chương trình hiện đó được xác định sẵn -Chương trình đào tạo và được mô tả chính xác thường được xây dựng về cái mà người học sẽ có theo các môn học, khả năng làm gì khi xong chương, mục,. Giáo viên chương trình. tập trung vào bao quát tài liệu Người học học như thế -Cung cấp cho người học -Dựa vào hoạt động của nào ? các hoạt động học tập.
Tài giáo viên là chủ yếu, GV liệu học tập được thiết kế truyền đạt truyền đạt qua cẩn thận, kết hợp phương trình diễn, diễn giảng. tiện giúp người học thông -Người học ít có cơ hội thạo công việc. kiểm tra quá trình và -Tài liệu được tổ chức sao không gian giờ học. cho mỗi người học có thể -Thường ít có thông tin dừng lại, làm lại, nhanh phản hồi đều đặn trong lên hoặc chậm lại khi cần quá trình dạy học.
chậm lại theo nhịp độ cá 17 nhân -Có thông tin phản hồi thường xuyên giúp người học điều chỉnh, sửa chữa việc thực hiện của mình. Khi nào người học -Cung cấp cho người học -Đòi hỏi cả lớp hoàn chuyển sang công việc có đủ thời gian cho phép thành công việc cùng một khác ? để thông thạo hoàn toàn thời gian. Lúc đó có thể một công việc trước khi quá sớm hoặc quá muộn được phép chuyển sang đối với từng cá nhân câu việc khác. người học.2 Đào tạo theo năng lực thực hiện 1.1 Khái niệm “ năng lực thực hiện” Thuật ngữ “Năng lực thực hiện” được nhiều tác giả sử dụng khi trình bày các quan điểm về “Giáo dục – Đào tạo dựa trên NLTH” Hiện nay trên thế giới tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về NLTH: Ở Anh thuật ngữ NLTH, người ta hiểu NLTH- Phản ánh những mong đợi của việc làm và tập trung vào các vai trò của lao động hơn là công việc.
Các tiêu chuẩn hay NLTH được kết hợp tạo ra các đơn vị của sự đánh giá các hoạt động tại chỗ làm việc. Ở Mỹ thuật ngữ NLTH được hiểu “Không phải là các công việc của nghề, nhưng mà nó là cái làm cho con người có thể làm được các nhiệm vụ của công việc đó” NLTH là thuộc tính tâm lý cơ bản của một con người, nó dẫn đến sự thực hiện một cách có hiệu quả trong một nghề. Theo tác giả Bernd Meikr thì năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực 18 nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động. Theo kết quả nghiên cứu đề tài: “Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên NLTH về việc xây dựng tiêu chuẩn nghề” (Mã số B93 – 38 – 24), các nhà nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa về NLTH như sau: + Năng lực thực hiện là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra với công việc đó trong thực tiễn hoạt động nghề nghiêp.
+ Năng lực thực hiện là các kiến thức, kỹ năng, thái độ đòi hỏi một người để thực hiện hoạt động có hiệu quả ở một công việc hay một nghề. Năng lực thực hiện bao gồm: Các kỹ năng thực hành, giao tiếp, giải quyết vấn đề và các kỹ năng trí tuệ.