Tài liệu Giáo dục: Dạy học kí cho học sinh lớp 6 theo định hướng phát

Tài liệu nghiên cứu Dạy học kí cho học sinh lớp 6 theo định hướng phát triển năng lực bộ sách cánh diều, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về giáo dục.

Trường đại học

Trường Đại học Giáo dục

Chuyên ngành

Sư phạm Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

171
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc trưng của thể loại kí

là một thể loại văn học độc đáo, kết hợp giữa yếu tố tự sự và biểu cảm. Đây là một bài viết ngắn, chứa đựng những ấn tượng, cảm nhận cá nhân của tác giả về một sự kiện, một con người hoặc một cảnh vật. Thể loại kí có những đặc trưng riêng biệt: tính chân thực cao, nội dung gần gũi với cuộc sống, giọng điệu thân mật và tự do trong cách diễn đạt. Học sinh lớp 6 cần hiểu rõ những đặc điểm này để có thể nhận diện và phân tích bài kí một cách hiệu quả. Dạy học kí không chỉ giúp học sinh tiếp cận các tác phẩm văn học mà còn giúp phát triển khả năng quan sát, suy nghĩ và biểu đạt của các em.

1.1. Định nghĩa thể loại kí

là thể loại văn học ghi lại những ấn tượng, cảm xúc của tác giả về đối tượng nào đó. Khác với tiểu thuyết hay truyện ngắn, bài kí tập trung vào sự thật và trải nghiệm cá nhân. Nó mang tính tự sự nhưng chứa đựng nhiều biểu cảm, giúp độc giả cảm nhận được cảm xúc thực của tác giả về những điều được mô tả.

1.2. Các đặc trưng chính của kí

Đặc trưng của kí bao gồm: tính chân thực cao, nội dung lấy từ cuộc sống thực tế, cấu trúc linh hoạt, giọng điệu tự do và thân mật. Tác giả bài kí có thể viết theo cảm xúc và liên tưởng cá nhân, không bị ràng buộc bởi những quy tắc nghiêm ngặt của các thể loại khác.

II. Yêu cầu dạy học kí theo định hướng phát triển năng lực

Dạy học kí theo định hướng phát triển năng lực là một phương pháp tiên tiến, giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển toàn diện các kỹ năng cần thiết. Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn lớp 6 đặt ra những yêu cầu cụ thể: học sinh phải có khả năng đọc hiểu văn bản kí, nhận diện đặc trưng thể loại, và quan trọng nhất là có thể viết được bài kí về kỉ niệm cá nhân. Để đạt được những yêu cầu này, giáo viên cần tổ chức các hoạt động dạy học có tính tích hợp, tích cực hoá vai trò của học sinh, đồng thời gắn liền với đánh giá theo hướng phát triển năng lực.

2.1. Yêu cầu về năng lực đọc hiểu kí

Học sinh cần phát triển năng lực đọc hiểu để có thể: xác định nội dung chính của bài kí, nhận diện giọng điệu và cảm xúc của tác giả, phân tích cấu trúc và cách diễn đạt, liên hệ nội dung với bối cảnh thực tế. Đọc hiểu kí không chỉ là hiểu từng từ mà còn cần cảm thụ được tinh thần và thông điệp mà tác giả muốn truyền tải.

2.2. Yêu cầu về năng lực viết kí

Năng lực viết kí yêu cầu học sinh có thể: lựa chọn chủ đề từ cuộc sống cá nhân, ghi lại ấn tượng và cảm xúc một cách chân thực, sử dụng ngôn ngữ sinh động và diễn đạt linh hoạt. Viết kí giúp học sinh phát triển kỹ năng quan sát, tư duy sáng tạo và khả năng tự biểu đạt.

III. Các nguyên tắc tổ chức hoạt động dạy học kí

Để tổ chức dạy học kí hiệu quả cho học sinh lớp 6, giáo viên cần tuân thủ những nguyên tắc khoa học. Thứ nhất, bám sát chương trình và mục tiêu dạy học đã được quy định trong Chương trình Giáo dục phổ thông. Thứ hai, đảm bảo tính vừa sức của người học, lựa chọn những bài kí phù hợp với lứa tuổi và trình độ học sinh. Thứ ba, bám sát đặc trưng thể loại kí để học sinh hiểu rõ về loại hình văn học này. Cuối cùng, cần gắn việc dạy học với đánh giá theo định hướng phát triển năng lực, giúp học sinh nhận thức được tiến bộ của mình và được động viên để phát triển.

3.1. Nguyên tắc bám sát đặc trưng thể loại

Dạy học kí phải thực hiện đúng đặc trưng của thể loại này. Giáo viên cần giúp học sinh hiểu rằng là kết hợp giữa tự sự và biểu cảm, có tính chân thực cao. Các hoạt động học tập nên tập trung vào việc phân tích cấu trúc, giọng điệu, và cách tác giả biểu đạt cảm xúc trong các bài kí cụ thể.

3.2. Nguyên tắc tích cực hoá học sinh

Tích cực hoá vai trò của học sinh là yêu cầu cấp thiết trong dạy học kí theo định hướng phát triển năng lực. Thay vì học sinh bị động tiếp nhận kiến thức, giáo viên nên tổ chức các hoạt động như: đọc sáng tác, thảo luận nhóm, dự án viết kí, trình bày cảm nhận cá nhân. Điều này giúp học sinh lớp 6 chủ động khám phá, học hỏi và phát triển năng lực của mình.

IV. Đánh giá theo định hướng phát triển năng lực

Đánh giá học sinh trong dạy học kí cần được thực hiện theo định hướng phát triển năng lực, không chỉ chú trọng vào điểm số mà còn quá trình phát triển của học sinh. Phương pháp đánh giá nên đa dạng: đánh giá thường xuyên qua các bài tập nhỏ, đánh giá cuối chủ đề qua bài kiểm tra, đánh giá sản phẩm học tập như bài kí được viết. Các công cụ đánh giá có thể bao gồm: bảng tiêu chí, thang điểm mô tả, phản hồi định tính từ giáo viên. Điều quan trọng là đánh giá phải giúp học sinh nhận ra điểm mạnh, điểm yếu và có hướng để cải thiện, từ đó phát huy tối đa năng lực của từng học sinh lớp 6.

4.1. Nội dung đánh giá kỹ năng đọc hiểu

Đánh giá khả năng đọc hiểu bài kí bao gồm: hiểu được ý chính, nhận diện được giọng điệu, phân tích được cách diễn đạt cảm xúc, liên hệ nội dung với bối cảnh thực tế. Giáo viên cần sử dụng các câu hỏi mở, bài tập phân tích để đánh giá sâu sắc khả năng của học sinh, không chỉ dừng lại ở mức độ nhớ lại thông tin.

4.2. Nội dung đánh giá kỹ năng viết kí

Đánh giá sản phẩm viết kí của học sinh cần xem xét: chọn chủ đề phù hợp, tính chân thực của nội dung, cách diễn đạt cảm xúc, tính sáng tạo trong ngôn ngữ, và cấu trúc bài viết. Bảng tiêu chí đánh giá nên được xây dựng rõ ràng, giúp học sinh biết những tiêu chí cần đạt được khi viết bài kí về kỉ niệm cá nhân.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Năng lực và dạy học theo định hướng phát triển năng lực 1. Năng lực là gì? Năng lực (competence) là một khái niệm có nguồn gốc từ tiếng Latinh “competenia” đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới và có mặt trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau: tâm lý học, triết học, xã hội học, giáo dục học, kinh tế học,… Năng lực bao hàm nhiều nghĩa đa dạng, trừu tượng đa chiều, đa nghĩa và được xem xét từ nhiều bình diện khác nhua, khó có thể thống nhất về nội hàm của nó. Tuy nhiên, có thể tập trung vào một tâm diểm ngữ nghĩa rút ra từ một số từ đồng nghĩa hoặc nhiều nghĩa tương đồng như “khả năng” (ability), “năng khiếu” (aptitude), “tiềm năng” (capability), “sự thành thạo” (proficiency), “hiệu suất” (efficiency) “hiệu qủa” (effectiveness) và “kỹ năng” (skills).

Từ điển Webster định nghĩa từ này là “fitness hoặc ability” (sự phù hợp hoặc khả năng). Từ này có nguồn gốc từ tiếng Latin đƣợc hiểu có nghĩa như “cognizance” (sự hiểu biết/sự nhận thức) hay “responsibility” (trách nhiệm). Chương trình Giáo dục trung học của bang Quécbec, Canada (2004) xem năng lực “là tổ hợp các hành động trên cơ sở sử dụng và huy động hiệu quả kiến thức và kĩ năng từ nhiều nguồn khác nhau để giái quyết thành công các vấn đề diễn ra trong cuộc sống hoặc có cách ứng xử phù hợp trong bối cảnh thực”.35] Trong tiếng Việt, năng lực có nghĩa tương đối gần với các từ khá như: kĩ năng, khả năng, tiềm năng, … tuỳ vào từng tình huống sử dụng riêng việt. Tựu chung lại thì có thể hiểu năng lực theo các nghĩa sau đây: Theo “Từ điển tiếng Việt” của GS.

Hoàng Phê, “NL được hiểu theo hai nét nghĩa”: (1) “Khả năng, điều kiện chủ quan hay tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” và (2) “Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao” [48, tr.600] Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam” (tập III), “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một số dạng hoạt động nào đó”[34, tr.41] 13 Trong bài viết “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học ính:, tác giả Phạm Minh Chánh cho rằng: “Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức”. Hay “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nhiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng kĩ cảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động.” [15] Trong tài liệu “Xây dựng CT GDPT theo hướng tiếp cận năng lực”, tác giả Đỗ Ngọc Thống quan niệm: “Năng lực có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn nhân lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như kinh nghiệm của HS, những kí năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác.11] Như vậy, có thể thấy năng lực là những kĩ năng, kĩ xảo học được hay sẵn có của cá nhân nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội,… và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt bằng những phương tiện, biện pháp, cách thức phù hợp. Dù định nghĩa như thế nào về năng lực thì bản thân khái niệm đã bao hàm đầy đủ các thành tố trong nó, đó là tri thức (năng lực hiểu), kĩ năng (năng lực làm) và thái độ (năng lực ứng xử).

Qua đó, có thể khái quát lại cấu trúc của năng lực bằng mô hình sau: 14 Về phân loại, nhóm tác giả biên soạn cuốn “Dạy học phát triển năng lực Ngữ văn Trung học phổ thông” cho rằng “Phân loại năng lực là một vấn đề rất phức tạp, kết quả phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại. Nhìn vào chương trình thiết kế theo năng lực của các các nước có thể thấy hai loại chính là: năng lực chung (gểnal competence) cà năng lực cụ thể, chuyên biệt (specific competence)”.Trong đó, năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học. Năng lực chuyên biệt là năng lực riêng được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù hay do một lĩnh vực hay một môn học nào đó.

Trong Chương trình giáo dục Phổ thông – Chương trình tổng thể (Ban hành kèm thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT) nêu rõ “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. Chương trình cũng đưa ra 6 phẩm chất chủ yếu và 10 năng lực cốt lõi cần hình thành và phát triển ở học sinh. Đây là mục tiêu cụ thể của chương trình, bao gồm: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ và thể chất. Đó là những năng lực cần có để mỗi người sống và làm việc.

Các năng lực cụ thể, chuyên biệt được hình thành trên nền tảng các năng lực chung thông qua mỗi môn học trong chương trình hoặc một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống. Như vậy, có thể thấy năng lực chính là việc huy động kiến thức và kĩ năng để giái quyết một cách linh động, hiệu quả một vấn đề cụ thể nào đó đặt ra từ thực tiễn cuộc sống. Năng lực bao gồm các thành tố: tri thức, kĩ năng và thái độ. Năng lực có thể chia thành hai loại là năng lực chung và năng lực chuyên biệt.

Năng lực chung giúp cho các cá nhân đáp ứng được những dòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp, góp phần tạo nên những kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng. Năng lực chuyên biệt cần thiết cho một hoạt động cụ thể, đối với một số người hoặc cần thiết trong một bối cảnh nhất định. Phân loại năng lực Tùy theo quan điểm tiếp cận mà người ta chia NL thành các dạng thức khác 15 nhau và theo đó cũng xuất hiện nhiều kiểu NL khác nhau. Tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là cách phân loại NL thành NL chung và NL riêng (còn gọi là NL đặc thù).

Năng lực chung được hình thành và phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; Năng lực riêng (NL đặc thù) được hình thành và phát triển thông qua một số môn học nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực Chương trình giáo dục định hướng phát triển NL là sự phát triển từ nhiều nền giáo dục và xu hướng giáo dục tiến bộ trên thế giới. Chương trình này còn được gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Giáo dục định hướng phát triển NL nhằm mục tiêu phát triển NL người học.

Quan sát sự xuất hiện của chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực, có thể nhận thấy rằng từ khoảng đầu thập kỷ 2000 trở đi, xu hướng Giáo dục Tiến Bộ (“Progressive Education”) đã mạnh mẽ du nhập vào hệ thống giáo dục ở Việt Nam. Xu hướng này bắt đầu bằng việc xuất hiện một loạt các tác phẩm như Bí ẩn tuổi thơ (Maria Montessori), Kinh nghiệm và giáo dục, Dân chủ và giáo dục (John Dewey), Sự ra đời của trí khôn trẻ em (Jean Piaget) được xuất bản rộng rãi tại Việt Nam [8]. Điểm đặc biệt là những tác giả này đều có chung quan điểm về việc dạy học lấy người học làm trung tâm. Nhà giáo dục họcJohn Dewey đã thúc đẩy việc thay đổi từ mô hình giáo dục truyền thống sang mô hình linh hoạt, tập trung vào việc phát triển toàn diện của học sinh.

Phương pháp giáo dục Montessori, được Maria Montessori phát triển vào đầu thế kỷ 20, là một trong những mô hình giáo dục đầu tiên tập trung vào việc phát triển tự chủ và sáng tạo của học sinh. Nó đã có ảnh hưởng lớn đến nhiều hệ thống giáo dục trên thế giới. Nhìn chung, hệ thống giáo dục ở Việt Nam đã trải qua những cải tiến quan trọng, đạt được nhiều thành tựu tích cực nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập với nền giáo dục quốc tế. Điều này thể hiện sự đồng bộ với xu hướng chung trên thế giới, trong việc chuyển đổi từ mục tiêu cung cấp tri thức 16 sang mục tiêu hình thành năng lực cho người học.

Dạy học định hướng phát triển năng lực nhằm đảm bảo chất lượng kết quả giảng dạy, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất và năng lực học sinh. Chương trình này tập trung vào việc phát triển năng lực vận dụng tri thức trong các tình huống thực tế, nhằm chuẩn bị cho học sinh các kĩ năng giải quyết các thách thức trong cuộc sống và nghề nghiệp. Trong chương trình này, vai trò của người học được nhấn mạnh, họ được xem là chủ thể chính của quá trình nhận thức [9]. Dạy học theo hướng phát triển NL đòi hỏi người học luyện tập và áp dụng sự kết hợp giữa các thành phần kiến thức, kỹ năng, và thái độ trong các tình huống ứng dụng phức tạp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ