phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Dạy học chƣơng II – phần Di truyền học, Sinh học 12, Trung học phổ thông bằng dạy học khám phá Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu dạy học khám phá ở nước ngoài Ở Pháp sau chiến tranh thế giới thứ hai, ra đời những “Lớp học mới”. Tại một số trƣờng trung học thí điểm, mọi hoạt động đều tuỳ thuộc vào sáng kiến, hứng thú, lợi ích, nhu cầu của học sinh.
Giáo viên là ngƣời giúp đỡ, phối hợp các hoạt động của học sinh, hƣớng vào sự phát triển nhân cách của học sinh. Trong những năm 1970 đến 1980, bộ giáo dục Pháp chủ trƣơng khuyến khích áp dụng các biện pháp giáo dục để tăng cƣờng các hoạt động chủ động, tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh, chỉ đạo áp dụng phƣơng pháp này từ sơ học, tiểu học lên trung học. Định hƣớng giáo dục 10 năm của Pháp (1989) ghi rõ: “Về nguyên tắc, mọi hoạt động giáo dục đều phải lấy học sinh làm trung tâm”[7]. Ở Mỹ năm 1970 đã xuât hiện ý tƣởng dạy học cá thể hoá và đã đƣợc đƣa vào thử nghiệm ở gần 200 trƣờng.
Trong đó giáo viên xác định mục tiêu cung cấp các phiếu hƣớng dẫn để học sinh tiến hành hoạt động tự lực, tự khám phá ra kiến thức mới theo nhip độ phù hợp với năng lực. Vào nửa sau của những năm 1950, ở một số nƣớc XHCN trƣớc đây nhƣ Liên Xô, CHDC Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan… đã có các nhà nghiên cứu giáo dục nhận thấy phải tích cực hoá quá trình dạy học, trong đó cần có những biện pháp tổ chức học sinh hoạt động khám phá kiến thức. Điển hình cho hƣớng nghiên cứu đó là: B. Những năm gần đây, đổi mới phƣơng pháp theo hƣớng tích cực hoá ngƣời học, với các biện pháp tổ chức học sinh hoạt động tự lực, chủ động khám phá ra kiến thức mới đã trở thành xu hƣớng của nhiều Quốc gia trên thế giới nói chung và khu vực nói riêng.
Với những hình thức mới nhƣ phƣơng 6 z pháp giáo dục theo mục tiêu, chú trọng phƣơng pháp tự học, tự nghiên cứu, tự khám phá ra kiến thức mới, phƣơng pháp nêu và giải quyết vấn đề coi đó nhƣ một mục tiêu của dạy học. Tình hình nghiên cứu dạy học khám phá ở trong nước Vào những năm 1960, nhiều nghiên cứu về các biện pháp tổ chức học sinh hoạt động tự lực, chủ động, sáng tạo khám phá ra kiến thức mới đã đƣợc đặt ra. Nhƣng các nghiên cứu mới chỉ hạn chế về mặt lí thuyết. Từ năm 1970 trở đi, các nghiên cứu về các biện pháp tổ chứ học sinh hoạt động tự lực khám phá ra kiến thức mới đƣợc quan tâm, nghiên cứu đồng bộ cả về lí thuyết và thực hành, trong đó nổi bật là các công trình nghiên cứu: “Cải tiến phƣơng pháp dạy và học nhằm phát huy trí thông minh của học sinh” của tác giả Nguyễn Sỹ Tỳ (1971); “ Kiểm tra lại kiến thức bằng phiếu kiểm tra” của tác giả Lê Nhân (1974).
Cũng trong thời gian này một số tài liệu nƣớc ngoài đã đƣợc dịch để phục vụ giảng dạy và nghiên cứu trong các trƣờng Sƣ phạm nhƣ: “Những cơ sở lí luận của dạy học nêu vấn đề” của tác giả Ôkôn (1976). Sau nghị quyết Trung ƣơng IV khoá VII (tháng 2/1993), nghị quyết Trung ƣơng II khoá VIII (tháng 12/1996), và gần đây nhất là nghị quyết Trung ƣơng VI khoá IX (4/2002) của Đảng, vấn đề đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh đã trở thành vấn đề quan trọng, cấp bách của ngành giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Điểm mấu chốt để phát huy tính tích cực của học sinh và nâng cao chất lƣợng dạy học, đó là giáo viên phải có những biện pháp tổ chức học sinh hoạt động khám phá nói riêng đã đƣợc triển khai mạnh mẽ cả về lí thuyết và ứng dụng. Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài báo, nhiều tài liệu đã đƣợc công bố, xuất bản.
Điển hình là các công trình nghiên cứu lí thuyết của các tác giả: Nguyễn Kỳ: “Phƣơng pháp giáo dục tích cực” (1994); “Thiết kế bài học theo phƣơng pháp tích cực” (1994). 7 z Trần Bá Hoành: “Dạy học lấy ngƣời học làm trung tâm” (1993); “Bản chất của việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm”. Song song với các nghiên cứu lí thuyết, cũng có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng các biện pháp tổ chức học sinh học tập tự lực khám phá kiến thức trong dạy học ở tất cả các môn trong trƣờng phổ thông. Trong lĩnh vực dạy học sinh học phần các qui luật di truyền cũng có các công trình nghiên cứu tiêu biểu là: Trần Bá Hoành: “Rèn trí thông minh cho học sinh qua chƣơng biến dị, di truyền” (1972); “Một số cơ sở lí thuyết của các phƣơng hƣớng cải cách môn Sinh học THPT” (7/1996); “Phát huy tính tích cực của học sinh trong chƣơng trình Sinh học 12” (1985); “Nâng cao chất lƣợng giảng dạy các kiến thức qui luật trong chƣơng trình sinh học đại cƣơng lớp 11-12” (Trần Bá Hoành và Nguyễn Đức Thành) (1986).
Đinh Quang Báo: “Phát triển hoạt động nhận thức của học sinh trong các bài sinh học ở trƣờng phổ thông ở Việt Nam” (1981); “Dạy học sinh học ở trƣờng phổ thông theo hƣớng hoạt động hoá ngƣời học” (Kỷ yếu hội thảo khoa học) (1/1995). Nguyễn Đức Thành: “Dạy bài liên kết gen bằng con đƣờng suy diễn lí thuyết” (1986); “Nâng cao chất lƣợng giảng dạy các qui luật di truyền” (1989). Lê Đình Trung: “Xây dựng và sử dụng bài toán nhận thức để nâng cao hiệu quả dạy học phần cơ sở vật chất và cơ chế di truyền trong chƣơng trình sinh học THPT” (1994). Một số khái niệm về dạy học khám phá 1.
Khái niệm khám phá “Khám phá” theo từ điển tiếng việt có nghĩa là tìm ra. Khám phá là hoạt động của con ngƣời tác động đến một đối tƣợng nhằm tìm ra bản chất bên trong của đối tƣợng, những điều mà con ngƣời chƣa từng biết trƣớc đó. 8 z Khám phá (Inquiry) là một thuật ngữ chủ yếu sử dụng trong dạy học các môn khoa học trong trƣờng. Nó dùng để chỉ cách đạt câu hỏi, cách tìm kiến thức hoặc thông tin, tìm hiểu về các hiện tƣợng.
Nó là một quá trình có mục đích của việc chiếm lính tri thức, giải quyết vấn đề, đồng thời cũng là cách thức, con đƣờng tìm kiếm những điều kì diệu và các vấn đề khó giải quyết từ đó nhận đƣợc thế giới khách quan. Nhiều nhà sƣ phạm khi nghiên cứu về các phƣơng pháp dạy học đã tán thành việc dạy các môn khoa học trong các loại hình trƣờng khác nhau cần chú trọng vào hoạt động khám phá.Richard Suchman, cha đẻ của chƣơng trình DHKP đƣợc sử dụng rộng rãi khắp nƣớc Mỹ, khám phá là việc mọi ngƣời tự tìm hiểu về môi trƣờng của mình. Ông đƣa ra một ví dụ cụ thể nhƣ sau: Thử nghĩ đến một mình đứa trẻ ở sân chơi với những đồ vật mà nó tự do khám phá. Đứa trẻ không cần dỗ dành mà ngay lập tức chúng bắt đầu khám phá các đồ vật bằng cách sờ, kéo, đập, ném chúng và cố lấy chúng đi.
Qua các hoạt động đó, đứa trẻ học về các vật dụng, tìm hiểu các vận dụng tƣơng tác với nhau nhƣ thế nào bằng cách phát triển những ý tƣởng của bản thân. Nói cách khác nó tìm hiểu về các đồ vật bằng cách tự khám phá. Khái niệm dạy học khám phá Thuật ngữ DHKP (Inquiry teaching) đƣợc xuất hiện và sử dụng với tƣ cách là một phƣơng pháp dạy học tích cực. Tuy nhiên, về nội dung bao hàm khái niệm của nó cũng nhƣ việc áp dụng phƣơng pháp dạy học này trong thực tế vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận khác nhau.
Trong học tập khám phá học sinh đi qua 3 giai đoạn, 3 hình thức hoạt động học tập: Đầu tiên cần phải thao tác hành động trên các dữ liệu đã có (hành động, phân tích), sau đó hành động trên các hình ảnh về chúng (hành động mô hình hoá) và cuối cùng rút ra đƣợc những khái niệm, các qui tắc chung từ những mô hình đó (hành động kí hiệu hoá). Bruner đã chỉ ra các vai trò sử dụng dạy học khám phá: 9 z + Thúc đẩy tƣ duy; + Phát triển động lực bên trong hơn là tác động bên ngoài; + Học cách khám phá; + Phát triển trí nhớ. - Theo Geoffrey Petty cho rằng: “Dạy học khám phá chỉ có thể đƣợc sử dụng nếu ngƣời học có khả năng rút ra đƣợc bài học mới từ kiến thức và kinh nghiêm sẵn có của mình”. Tác giả lƣu ý rằng, tìm thông tin trong sách không phải là cách học khám phá và nhấn mạnh: Các hoạt động khám phá thƣờng đƣợc tiến hành theo nhóm.
Chúng đòi hỏi phải có kỹ năng tƣ duy cao để tìm ra cái mới và vì ngƣời học tự tìm tòi vấn đề cho nên việc học có chất lƣợng cao. Mỗi thành viên của nhóm có thể cung cấp một phần “bộ xếp hình” về những hiểu biết đối với chủ thể đang nghiên cứu. - Theo Jacks Richards, John Platt cho rằng: Dạy học khám phá là phƣơng pháp dạy học theo những qui luật sau: + Ngƣời học phát triển quá trình tƣ duy liên quan đến việc khám phá và tìm hiểu thông qua quá trình quan sát, phân loại, đánh giá, tiên đoán, mô tả và suy luận. + Giáo viên sử dụng phƣơng pháp dạy học đặc trƣng hỗ trợ quá trình khám phá và tìm tòi.
+ Giáo trình giảng dạy không phải là nguồn duy nhất cho ngƣời học. + Kết luận đƣa ra với mục đích thảo luận chứ không phải là cuối cùng. + Ngƣời học phải lập kế hoạch, tiến hành và đánh giá quá trình học của mình với sự hỗ trợ một phần của giáo viên. - Theo Nguyễn Phú Lộc: “ Việc học tập khám phá xảy ra khi các cá nhân phải sử dụng quá trình tƣ duy để phát hiện ra ý nghĩa của điều gì đó cho bản thân họ.
Công việc của học sinh là tự phát hiện ra ý nghĩa điều cần đƣợc học. Để có đƣợc điều này, học sinh phải kết hợp quan sát và rút ra kết luận, thực hiện so sánh, làm rõ ý nghĩa số liệu để tạo ra một sự hiểu biết mới mà họ chƣa từng 10 z biết trƣớc đó”.