Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2: Vận dụng Blended learning trong dạy học Chương IV Sinh sản, Sinh học 11, Trung học phổ thông Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu về dạy học hỗn hợp 1. Trên thế giới Trong thế kỷ XXI, các phƣơng pháp dạy học mới liên tục ra đời và phát triển. Các công cụ để hỗ trợ cho việc học cũng phát triển mạnh.
Và E – learning đã ra đời và trở nên quen thuộc trên thế giới. E – learning đã ra đời và từ đó xâm nhập vào gần nhƣ toàn bộ các hoạt động đào tạo của các nƣớc trên thế giới. Sự bùng nổ E – learning là kết quả tất yếu cho ngành giáo dục trên thế giới. Sự thành công của các hệ thống giáo dục hiện đại có sử dụng phƣơng pháp này của nhiều quốc gia nhƣ Mỹ, Anh, Nhật,… đã chứng minh điều đó.
Quá trình phát triển của e – learning có thể chia làm 4 giai đoạn nhƣ sau: - Trƣớc năm 1983: Tại giai đoạn này máy tính chƣa đƣợc sử dụng phổ biến, phƣơng pháp giáo dục chủ yếu của giai đoạn này là “Lấy GV làm trung tâm”. - Giai đoạn từ 1984 – 1993: Hệ điều hành Windows 3.1, máy tính, phần mềm office gồm nhiều phần mềm nhỏ nhƣ: trình chiếu powerpoint, excel,…; cùng các công cụ đa phƣơng tiện đã mở ra một tƣơng lai mới. Những công cụ này sẽ giúp ta ra những bài giảng có cả âm thanh và hình ảnh. Vào bất kì giai đoạn nào, ở đâu, ngƣời học đều có thể mua và tự học.
- Giai đoạn 1993 – 1999: Khi website đƣợc phát triển, các ứng dụng nhƣ: Email, Web, trình duyệt, kỹ thuật truyền Audio/Video với ngôn ngữ hỗ trợ Website nhƣ HTML, JAVA bắt đầu trở nên thông dụng và đã làm thay đổi cách thức của giáo dục đào tạo bằng đa phƣơng tiện. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Giai đoạn 2000 – đến nay: Các công nghệ phát triển cao bao gồm JAVA và các ứng dụng mạng IP, công nghệ truy cập mạng và Internet diễn rộng, các công nghệ thiết kế website tiên tiến đã trở thành một cuộc cách mạng lớn trong giáo dục và đào tạo. Ngày nay thông qua website, ngƣời GV có thể hƣớng dẫn trực tuyến (hình ảnh, âm thanh, các công cụ trình chiếu) tới bất kì ngƣời học nào. Càng ngày công nghệ website càng cho thấy khả năng mang lại hiệu quả cao trong giáo dục đào tạo.
Một cuộc cách mạng trong đào tạo với giá thành rẻ, chất lƣợng cao và hiệu quả đã ra đời. Đó chính là thời kì thịnh vƣợng của E – learning. Cùng với sự phát triển của E – learning, Blended – learning cũng đã và đang là một xu hƣớng mới của giáo dục trên toàn thế giới. Nghiên cứu của Osguthope và Graham đã chỉ ra sáu lí do để chọn thiết kế hoặc sử dụng một hệ thống BL là: (1) Tính phong phú của sƣ phạm.
(2) Tiếp cận với sự hiểu biết. (3) Sự tƣơng tác xã hội. (4) Hƣớng tới cá nhân. (5) Chi phí hiệu quả.
(6) Dễ dàng sửa đổi. Ở rất nhiều nƣớc phát triển, Blended learning đã rất thành công đặc biệt là trong lĩnh vực đào tạo nghề trực tuyến. Hiện nay, việc dạy học E- learning đã không mang lại hiệu quả nhƣ mong muốn và không đƣợc ngƣời học hƣởng ứng. Thay vào đó, blended learning là lựa chọn tối ƣu cho các nhà giáo dục để tạo ra một môi trƣờng học tập lí tƣởng, có nhiều phƣơng tiện trực quan mà vẫn đảm bảo phát huy đƣợc những ƣu thế của các phƣơng pháp dạy học truyền thống.
Các công bố của Thomson Job Impact Study (2002), Texas Instruments and Corning Glass Works (Zemke, 2006), Results - Oriented Learning (2006) 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của Microsoft, Schnelle (2006), Bersin (2004). đã chứng minh đƣợc blended learning có thể mang lại hiệu quả cao và đƣợc nhiều ngƣời đón nhận. Ở Việt Nam Tại Việt Nam, hiện nay chƣa có nhiều nghiên cứu về dạy học kết hợp. Đã có một số khái niệm đƣợc đƣa ra, trong đó tác giả Nguyễn Văn Hiền đã đƣa ra một khái niệm tƣơng tự là “học tập hỗn hợp” để chỉ hình thức dạy học có sự kết hợp giữa cách học trên lớp với học tập có sự hỗ trợ của công nghệ, học tập qua internet.
Tác giả Nguyễn Danh Nam nhận định: “Sự kết hợp giữa e-learning với lớp học truyền thống trở thành một giải pháp tốt, nó tạo thành một mô hình đào tạo gọi là “blended learning””. [12] Với nhiều ý kiến của các tác giả đƣa ra, nhận thấy rằng: học tập kết hợp là việc sử dụng nhiều nội dung, phƣơng pháp và cách thức tổ chức dạy - học trong việc phối hợp giữa các hình thức học khác nhau nhằm mang lại hiệu quả cao trong học tập. Gần đây, trong dạy học các môn cơ bản đã có sự nghiên cứu của một số tác giả, chẳng hạn: nghiên cứu “Vận dụng mô hình B-Learning trong dạy học môn vật lý ở trường phổ thông” và “Tổ chức hoạt động dạy học theo B- Learning đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo sau 2015”[6] của nhóm tác giả Trần Huy Hoàng và Nguyễn Kim Đào đã đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục (Số 127, 4/2016) và Tạp chí Khoa học của trƣờng Đại học Văn Hiến (Số 5, 11/2014); nghiên cứu “Blended learning trong dạy học hóa học ở trường Trung học phổ thông” của tác giả Nguyễn Hoàng Trang đăng trên Tạp chí Giáo dục Số Đặc biệt (Kì 2, 10/2017); nghiên cứu “Lớp học nghịch đảo – Mô hình dạy học kết hợp trực tiếp và trực tuyến” của tác giả Nguyễn Văn Lợi đăng trên tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ (Số 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 34-2014) và khóa luận tốt nghiệp “Xây dựng mô hình học kết hợp để dạy Sinh học 10 (THPT) nâng cao với sự hỗ trợ của phần mềm Moodle” của tác giả Phạm Xuân Lam (2010). Những nghiên cứu này mới chỉ dừng ở mức nghiên cứu lí thuyết và đề xuất giải pháp vận dụng ở phạm vi nhỏ.
Qua nghiên cứu tổng quan tài liệu chúng tôi thấy, ở Việt Nam chƣa có nghiên cứu nào có quy mô lớn đề cập đến việc vận dụng blended learning trong dạy học môn Sinh học ở trƣờng THPT. Cơ sở lý luận về dạy học hỗn hợp (Blended learning) 1. Khái niệm dạy học hỗn hợp (Blended learning) Trên thế giới, khái niệm dạy học kết hợp (Blended learning, nghĩa của từ “Blend” là “pha trộn”) cũng mới đƣợc ra đời. Hiện nay, có một số khái niệm khác nhau về Blended learning, cụ thể: Theo Alvarez (2005) đã định nghĩa, Blended learning là “Sự kết hợp của các phương tiện truyền thông trong đào tạo như công nghệ, các hoạt động và các loại sự kiện nhằm tạo ra một chương trình đào tạo tối ưu cho một đối tượng cụ thể” [17].
Tinio cho rằng “Học tích hợp (Blended Learning) để chỉ các mô hình học kết hợp giữa hình thức lớp học truyền thống và các giải pháp e–Learning”. Theo Bonk và Graham (2006), Blended learning là: Kết hợp các phƣơng thức giảng dạy (hoặc cung cấp các phƣơng tiện truyền thông); Kết hợp các phƣơng pháp giảng dạy; Kết hợp học tập trực tuyến và dạy học truyền thống (F2F). Ở Việt Nam, Blended learning còn là một khái niệm khá mới, chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều. Tác giả Nguyễn Văn Hiền có đƣa ra một khái niệm gần giống là “Học tập hỗn hợp” để chỉ hình thức kết hợp giữa cách học trên lớp với học tập có sự sử dụng công nghệ, học tập qua internet [4].
Tác giả Nguyễn Danh Nam cũng đƣa ra một quan điểm cho rằng: Sự kết hợp giữa E-learning với lớp học truyền thống trở thành một giải pháp tốt, nó tạo thành một mô hình 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đào tạo gọi là “Blended Learning” [10]. Để phù hợp với môi trƣờng học tập, trình độ học sinh và khả năng Công nghệ thông tin và Truyền thông ở Việt Nam, chúng tôi cho rằng Blended Learning là sự kết hợp “hữu cơ”, bổ sung lẫn nhau giữa hình thức tổ chức dạy học trên lớp F2F dƣới sự hƣớng dẫn của giáo viên và hình thức tổ chức dạy học qua mạng E-learning với tính tự giác của học sinh thành một thể thống nhất, trong đó các phƣơng pháp dạy học đƣợc vận dụng mềm dẻo để tận dụng tối đa ƣu điểm của Công nghệ thông tin và Truyền thông nhằm mang lại hiệu quả học tập tốt nhất. Đặc điểm của dạy học hỗn hợp B-Learning là một mô hình tổ chức dạy học hết sức linh hoạt, áp dụng những PPDH tiên tiến và vận dụng hiệu quả những tiện ích mà công nghệ đem lại. Nền tảng của phƣơng pháp B-Learning tạo thành dựa trên những ƣu điểm của giáo dục truyền thống F2F và giáo dục dựa trên máy tính thay vì sử dụng một cách riêng lẻ.
Đặc điểm cơ bản của B-Learning phản ánh giá trị giáo dục của thế kỷ 21: Cung cấp một phƣơng pháp mới để học tập và giảng dạy. B-Learning khá linh hoạt về thời điểm và nơi diễn ra các hoạt động dạy và học, để có thể phù hợp nhất với từng nội dung, cách tổ chức vì việc học vừa diễn ra trên lớp vừa diễn ra thông qua internet. HS có thể chủ động thời gian học thay vì có một thời gian cố định. Cách chỉ dẫn nhƣ thế nào có thể khiến HS chủ động tự học.
HS nhận ra đƣợc vai trò chủ đạo của mình, GV cần để hoạt động của HS là chính, từ đó HS sẽ tích cực tham gia vào hoạt động học trên lớp “thật” và trên lớp học “ảo”. Ngoài kiến thức về chuyên môn, HS còn đƣợc hình thành và phát triển những kỹ năng khác. Tạo ra dạy học kỹ thuật số. Sử dụng các phƣơng pháp tiên tiến sao phù 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hợp với mỗi một nội dung dạy, thích hợp với từng đối tƣợng học và khả năng tiếp nhận tri thức của HS.
B-Learning kế thừa những ƣu điểm của học trực tuyến E-Learning. B- Learning có thể hỗ trợ ngƣời học tiếp nhận tri thức với tốc độ nhanh nhất đạt hiệu quả cao. Khả năng ghi nhớ kiến thức của ngƣời học sẽ tăng lên thông qua tính năng tƣơng tác của nó. Ngƣời học có thể truy cập từ bất cứ một máy tính nào ở bất cứ đâu trên thế giới, với chi phí rất thấp để tham gia lớp học “ảo”, thảo luận, trao đổi và tìm kiếm tài liệu phục vụ học tập.
B – learning sẽ giúp tận dụng tối đa lợi ích mà phƣơng tiện công nghệ mang lại.