CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. NĂNG LỰC MÔ HÌNH HÓA TOÁN HỌC 1. Về năng lực Trong từ điển (Hoàng Phê. 2000) thì “năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; là phẩm chất tâm lý, sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” Trong tiếng Latinh: “competentia” có nghĩa là “gặp gỡ”.
Ở tiếng Anh, "năng lực" được biểu đạt với nhiều thuật ngữ “capability, ability, competency, capacity. Capability: Khả năng cá nhân thể hiện trong hoạt động nhất định; Competency - Năng lực hành động: Khả năng thực hiện hiệu quả các hành động, các vấn đề liên quan đến một lĩnh vực nhất vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động”. Theo OECD thì “năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể”. Trong chương trình giáo dục phổ thông viết: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình HT, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác để thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [6].
Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng quan niệm về năng lực theo OECD trong [36]: “NL là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể”. Một tiệm cắt tóc mở ra được một năm nhưng ít khách sau đó chuyển sang một chủ mới cắt thì đông khách hơn. Năng lực ở đây chính là khả năng mà chủ 2 thu hút khách. Trong tiết “bài tập phương trình mặt phẳng” trước khi vào nội dung bài giáo viên yêu cầu 2 học sinh lên bảng vẽ sơ đồ tư duy các dạng bài tập lập phương trình mặt phẳng.
8 Cá nhân học sinh lên bảng vẽ được sơ đồ tư duy thể hiện các dạng lập phương trình mặt phẳng chính là năng lực và cụ thể hơn đó là năng lực MHH toán học thông qua sơ đồ tư duy. Năng lực toán học Có nhiều quan niệm khác nhau về NL toán học. Trên thế giới: Theo Blomhoj & Jensen (2007) [39]: “NL toán học là khả năng sẵn sàng hành động để đáp ứng với thách thức toán học của các tình huống nhất định”. Ông xác định NL toán học gồm 8 thành tố (Hình 1.
Tám năng lực toán học đặc trưng Nguồn: Niss (1999) Trong đó “Năng lực MHH gắn liền với cấu trúc lĩnh vực hay bối cảnh được MHH; chuyển thể thực tế thành các cấu trúc toán; giải thích các mô hình toán học theo nghĩa thực tế; làm việc với một mô hình toán; xây dựng mô hình thỏa đáng; phản ánh, phân tích và đưa ra sự phê phán cũng như các kết quả của nó; giao tiếp về mô hình và các kết quả của nó; giám sát và điều khiển quá trình MHH” [16]. Ở Việt Nam: 9 Theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Toán [7], NL đặc thù mang tính chuyên biệt cần thiết phát triển cho HS phổ thông là NL toán học, bao gồm 5 thành phần: + Năng lực tư duy và lập luận toán học; + Năng lực mô hình hoá toán học; + Năng lực GQVĐ toán học; + Năng lực giao tiếp toán học; + Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán Trong đó, NL MHH toán học được coi là một trong năm thành tố của NL toán học. Rút gọn P = 2log 2 12 + 3log 2 5 − log 2 15 − log 2 150 + Năng lực tư duy lập luận: Là khả năng liên tưởng tới các công thức về logarit đã được học. + Năng lực MHH toán học: Qua đề bài học sinh chuyển đổi về các công thức log a b = log a b , log a (b1.b2 ) = log a b1 + log a b2 , log a (a ) = để tính.
+ Năng lực giải quyết vấn đề: Khả năng áp dụng công thức để tính P = 2 log 2 12 + 3log 2 5 − log 2 15 − log 2 150 = log 2 122 + log 2 53 − (log 2 15 + log 2 150) = log 2 122.53 = log 2 = log 2 8 = log 2 23 = 3 15. Năng lực mô hình hóa toán học Trong luận văn này, chúng tôi quan niệm về NL MHHTH là “Năng lực MHH toán học thể hiện qua việc xác định được mô hình toán học cho tình huống thực tiễn nhằm giải quyết tình huống thực tiễn thông qua mô hình được thiết lập, sau đó thể hiện và đánh giá được lời giải trong ngữ cảnh thực tế và cải tiến mô hình nếu cách giải quyết không phù hợp” cùng với những mô tả chi tiết trong chương trình môn Toán 2018 [7] đối với HS THPT: 10 “Thiết lập được mô hình hình toán học .; Giải quyết được các vấn đề toán học trong mô hình; Lí giải được tính đúng đắn của lời giải; nhận biết được cách đơn giản hóa, cách điều chỉnh những yêu cầu thực tiễn”. Đối với môn Toán, việc phát triển NL MHH toán học cho HS có tác dụng trực tiếp đóng góp vào việc phát triển NL toán học (xem như là một thành tố của NL toán học). “Một vi khuẩn có khối lượng khoảng 5.10-13 gam và cứ 20 phút vi khuẩn đó tự nhân đôi một lần.
Giả sử các vi khuẩn được nuôi trong các điều kiện sinh trưởng tối ưu. Hỏi sau bao nhiêu giờ khối lượng do tế bào vi khuẩn này sinh ra sẽ đạt tới khối lượng của Trái Đất (lấy khối lượng của Trái Đất là 6. Hướng dẫn - Thiết lập mô hình toán học GV: 20 phút vi khuẩn tự nhân đôi 1 lần. Vậy sau 20 phút lần thứ nhất số lượng vi khuẩn bằng bao nhiêu? HS: Sau 20 phút lần thứ nhất số lượng vi khuẩn bằng: 2 = 21 GV: Sau 20 phút lần thứ 2 số lượng vi khuẩn bằng bao nhiêu? HS: Sau 20 phút lần thứ nhất số lượng vi khuẩn bằng: 22 GV: Dự đoán số lượng vi khuẩn sau 20 phút lần thứ n? HS: Sau 20 phút lần thứ n số lượng vi khuẩn bằng: 2n GV: Một vi khuẩn có khối lượng 5.
Vậy 2n vi khuẩn có khối lượng bao nhiêu? HS: Khối lượng của 2n vi khuẩn bằng: 5. 2n gam GV: Khối lượng do tế bào vi khuẩn này sinh ra sẽ đạt tới khối lượng của Trái Đất ta có phương trình: 5.1027 với n là ẩn suy ra 2n = 1,2.1040 Mô hình toán học là phương trình 2n = 1,2.1040 với n là ẩn - Giải quyết được các vấn đề toán học xuất hiện trong mô hình được thiết lập. GV: Phương trình trên là dạng phương trình nào mà các em đã được học 11 HS: Phương trình ax = b GV: Từ phương trình ax = b đã biết cách giải hãy áp dụng giải phương trình 2n = 1,2.1040 133 - Lí giải được tính đúng đắn của lời giải GV: Một lần 20 phút vậy 133 lần thì bao nhiêu phút? HS: 20.133 = 26600 phút GV: Hãy đổi ra giờ? 26600 HS: 44,3 giờ. 60 GV: Vì đề bài yêu cầu làm tròn đến kết quả hàng đơn vị nên ta kết luận là sau 44 giờ khối lượng do tế bào vi khuẩn này sinh ra sẽ đạt tới khối lượng của Trái Đất.
Các bước mô hình hóa toán học Tham khảo [17] tóm tắt 4 bước thực hiện MHHTH như sau: “Bước 1. Mô tả tình huống đã cho một cách rút gọn; Bước 2. Biểu đạt lại tình huống thành bài toán bằng ngôn ngữ ký hiệu toán học; Bước 3. Huy động kiến thức và phương pháp toán học để giải quyết bài toán; Bước 4.
Xem xét đánh giá lại quá trình ở 3 bước trên” Quá trình mô hình hóa có thể minh họa bằng sơ đồ như sau: Sơ đồ 1. Quy trình mô hình hóa toán học 12 1. Thành phần, biểu hiện của NL MHH toán học ở HS lớp 11 khi giải bài toán thực tiễn về lũy thừa, mũ và logarit Để xác định các thành tố và biểu hiện của NL mô hình hoá toán học ở HS khi giải các bài toán thực tiễn bằng công cụ “lũy thừa, mũ và lôgarit”, tác giả luận văn dựa trên những căn cứ: + Các kết quả nghiên cứu về NL MHHTH; + Quy trình vận dụng toán học vào thực tiễn + Vốn tri thức, kỹ năng toán học và khả năng tư duy và NL GQVĐ của HS lớp 11 THPT. + Đặc điểm và mô hình toán học khi giải bài toán bằng công cụ “lũy thừa, mũ và lôgarit”.
Dựa vào các kết quả nghiên cứu đã có về vấn đề nghiên cứu ở đề tài này, tác giả luận văn lựa chọn, xác định 4 thành tố của NL MHH của HS lớp 11 khi giải các bài toán có nội dung thực tiễn bằng công cụ lũy thừa, mũ và lôgarit như sau: a). NL nhận dạng tình huống thực tiễn và chuyển đổi sang mô hình bài toán về lũy thừa, mũ và lôgarit, thể hiện ở khả năng - Nhận dạng tình huống thực tiễn: Với lũy thừa, mũ và logarit thông thường có các dạng tình huống thực tiễn liên quan đến phép toán, biểu thức, hàm số lũy thừa, mũ và lôgarit như sau: + Bài toán lãi suất ngân hàng, vay nợ…. Không phải mọi bài toán đều nhất thiết phải dùng lũy thừa, mũ logarit. Có những bài toán ta có thể áp dụng công thức về cấp số nhân, cấp số cộng … cũng ra được kết quả (mà về thực chất cũng sử dụng phép toán lũy thừa với số mũ tự nhiên).
Tuy nhiên nếu ta quy về dạng bài toán về lũy thừa (với số mũ mở rộng) thì giải sẽ nhanh hơn phù hợp với xu thế thi trắc nghiệm hiện nay. + Bài toán xuất phát từ các môn học khác như bài toán về dân số, lượng phóng xạ (Hóa học, Vật lí), sự sinh sản của một loài (Sinh học) … Các bài toán này ta cũng có thể dùng kiến thức ở môn học đó để giải quyết (mà thực 13 chất khi tính toán cũng dựa vào công cụ toán học) nhưng nếu biết cách mô hình hóa toán học để chuyển đổi về bài toán lũy thừa, mũ, logarit có thể làm cho lời giải ngắn gọn hơn tiết kiệm thời gian hơn và cũng mở ra cách làm mới từ đó thấy được sự liên môn giữa các môn khi học.