mở đầu cho cả hệ thống các năng lực tiếp nhận văn chương khác. - Năng lực tái hiện hình tượng và biểu tượng nghệ thuật. Sức mạnh của văn chương là ở hình tượng, biểu tượng nghệ thuật. Đây là năng lực quan trong nhất trong việc tiếp nhận TPVC và là cơ sở của các năng lực khác.
- Năng lực liên tưởng trong tiếp nhận văn học. Liên tưởng theo chiều dọc - liên tưởng đồng sáng tạo với tác giả, liên tưởng theo chiều ngang – cơ sở của hoạt động so sánh. - Năng lực cảm thụ cụ thể kết hợp với năng lực khái quát hóa các chi tiết nghệ thuật của tác phẩm trong tính chỉnh thể. Năng lực này cho người học có một cái nhìn tổng quan toàn diện khi tiếp nhận TPVC.
18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Năng lực nhận biết loại thể để định hướng hoạt động tiếp nhận. Năng lực này có vị trí đặc biệt trong nhà trường Việt Nam vì đây là cách người đọc định hướng nhanh cách thức, con đường tiếp nhận văn học. - Năng lực cảm xúc thẩm mĩ là hệ quả của nhiều năng. Không chỉ vậy năng lực cảm xúc thẩm mĩ giúp phát triển năng lực sáng tạo văn học sau này của HS.
- Năng lực nhận thức – nhận thức thế giới mà tác phẩm đã xây dựng lên. - Năng lực đánh giá là năng lực khái quát, so sánh, đối chiếu, đặt tác phẩm vào vị trí trong dòng chảy văn học để khẳng định giá trị của tác phẩm. Đặc biệt, quá trình dạy học đọc hiểu trong nhà trường còn hình thành năng lực sáng tạo văn học ở người học. Điều đó được biểu hiện qua lòng say mê văn học, cảm xúc thẩm mĩ và tính nhân văn được phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng một cách sáng tạo ngôn từ và việc khái quát hóa bằng hình tượng.
Như vậy, việc dạy học đọc hiểu TPVC có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình học và phát triển các kỹ năng, năng lực khác, giúp phát triển một cách toàn diện. Ngôn từ, hình tượng, biểu tượng và mối quan hệ giữa ngôn từ, hình tượng, biểu tượng của tác phẩm Ngôn từ là chất liệu, là hiện tượng của đời sống mang ý nghĩa phổ biến và ý nghĩa sáng tạo của cá nhân, tạo nên nét khác biệt rõ nét về phong cách tác giả. Khởi thủy của tác phẩm NT, trong đó có văn học bao giờ cũng là tiếng nói giữa con người mang sắc thái tình cảm. Ngôn ngữ không chỉ là chất liệu, không phải chỉ là phương tiện mà còn là “kí hiệu của tình cảm”.
Nghệ thuật chính là kết quả của việc sử dụng , khai thác hình thức cấu trúc ngôn ngữ. Đó là sự nắm bắt quy luật hình thức đời sống tự nhiên nào đấy ví dụ quy luật nhịp điệu trong sự sinh tồn bao gồm sự lặp lại, trùng điệp, đối xứng, phi đối xứng, nhanh chậm, gấp gáp,…để biểu hiện các cung bậc khác nhau của tình cảm. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhà văn nhà thơ phải sử dụng ngôn từ và trau chuốt nó, tạo thành một thứ ngôn từ văn chương giàu có, sang trọng, đẹp đẽ. Ngôn từ nghệ thuật có những đặc điểm sau: - Tính hệ thống - Tính chính xác - Tính truyền cảm - Tính hình tượng - Tính hàm súc, đa nghĩa - Tính cá thể hoá Trong đó, tính chính xác, tính truyền cảm, tính hình tượng là cực kỳ quan trọng.
Nói rằng “Văn hoa dã chất chi đối”, “Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu” là như vậy. Đọc văn, ta phải tưởng tượng, liên tưởng, suy luận, cảm xúc với tất cả mọi giác quan và tâm hồn, mới hình dung được cảnh vật, sự việc. Điều đó nói lên rằng, ngôn từ mang tính chất “phi vật thể”. Con chữ đấy, câu thơ đấy nhưng không phải ai cũng hiểu và cảm như nhau.
Ngôn từ có sức mạnh vạn năng, có thể diễn tả sự việc theo dòng chảy lịch sử qua hàng trăm năm, hàng vạn năm trên một không gian hữu hạn hoặc rộng lớn vô hạn. Ngôn từ mang tính hình tượng tự trong bản chất của nó. Bởi vì, ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy và ý thức không thể tồn tại ngoài ngôn ngữ được. Các từ câu của lời nói là hình ảnh của hiện thực.
Ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tế trên ba phương diện: định danh (lời nói gọi tên các sự vật - chức năng định danh), biểu ý (lời nói trao đổi ý kiến với nhau) biểu cảm (lời nói biểu hiện và truyền đạt tình cảm). Như vậy lời nói gợi lên các sự vật, đưa con người thâm nhập vào thế giới của ấn tượng, cảm xúc. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nắm vững cấu trúc ngôn từ của tác phẩm là nắm vững hình thức tái hiện cuộc sống. Đi qua nó ta đến với cấu trúc hình tượng nghệ thuật của tác phẩm.
Hình tượng của tác phẩm là tầng biểu hiện tình cảm thẩm mĩ của nhà văn và tác phẩm. Cấu trúc hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm giúp người đọc nhìn ra được một hiện thực mới mẻ, hiện thực được sáng tạo bằng sự tổ chức lại quan hệ xã hội giữa con người trong một thế giới được xây dựng bởi không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, chi tiết nghệ thuật thông qua ngôn ngữ nghệ thuật. Người đọc đối diện với một hiện thực khác thường, mới mẻ cần được khám phá và bày tỏ thái độ yêu ghét rõ ràng. Do đó phân tích cấu trúc hình tượng nghệ thuật phải chú ý đến kết cấu nội tại tức là mối quan hệ qua lại giữa nhân vật trữ tình và điểm sáng thẩm mĩ; giữa cảnh và tình; giữa bộ phận và toàn thể; giữa hiển ngôn và hàm ngôn; giữa chân thực và hư cấu; giữa cái dường như và cái có thể; giữa cái hợp lí và cái phi lí…để nhìn ra dấu ấn của ý thức và vô thức lặn sâu trong đời sống và nằm sau thế giới hình tượng.
Cấu trúc này là kết quả của sự liên hệ mật thiết và hoàn thiện dần kinh nghiệm sống và kinh nghiệm thẩm mĩ. Cấu trúc hình tượng nghệ thuật thường được tổ chức thành mối quan hệ vô cùng phức tạp giữa ý thức và vô thức, chúng thường không mạch lạc tuyến tính thẳng băng, không thể đối chiếu với logic hiện thực cuộc sống và hợp với suy nghĩ kiểu lí trí đời thường mà tự nó là sự tổng hợp khái quát và huyền ảo hóa đời sống mà ta gọi là tư duy hình tượng. Từ hiện thực đời sống xã hội vô tình, vô lí nhờ cấu trúc hình tượng nghệ thuật, cuộc sống trong tác phẩm vận động để giải tỏa ước mơ và giải phóng tư tưởng của nhà thơ. Cuộc sống trong tác phẩm sẽ trở nên hữu tình, hữu lí hơn cho một lí tưởng thẩm mĩ nhất định.
Có thể nói, từ cấu trúc ngôn ngữ đến cấu trúc hình tượng nghệ thuật là quá trình chuyển biến, hóa sinh từ nội dung hiện thực đến hình thức nghệ thuật, từ vốn có đến tạo ra một đời sống khác để con người sống cuộc đời mới phong phú và tốt đẹp hơn. 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tính độc đáo của chất liệu xây dựng nên hình tượng văn chương là ngôn từ đã khiến cho hình tượng văn chương mang tính phi vật thể. Ðược xây dựng từ chất liệu ngôn từ, hình tượng văn chương không tác động trực tiếp vào các giác quan của chúng ta, dù là thị giác hay thính giác. Các hình tượng văn chương hiện lên trong óc người thưởng thức bằng trí tưởng tượng.
Người đọc phá vỡ ý nghĩa các từ, câu để liên tưởng với các biểu tượng về đối tượng được miêu tả, nhờ vào trí tưởng tượng mà người đọc dường như tái tạo đối tượng miêu tả màvăn bản chỉ ra. Như thế chúng ta không sờ thấy, nghe thấy, nhìn thấy trực tiếp tượng văn chương. Các hình tượng văn chương thiếu tính trực quan, chúng phi vật thể. Người đọc dường như phải vận dụng mọi cơ quan cảm giác để tiếp nhận hình tượng văn chương.
Những câu thơ sau người đọc dùng thị giác, thính giác để tiếp nhận màu sắc, hình khối của hiện thực: Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa (Truyện Kiều – Nguyễn Du) Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời (Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải) Hình tượng nghệ thuật văn chương là phi vật thể nó lại lấy việc khắc họa tâm trạng, thể hiện các môn quan hệ, các phản ứng của ý thức con người- là những cái vô hình - làm chủ yếu, chứ không lấy sự liệt kê các chi tiết có thể thụ cảm bằng thị giác làm cứu cánh. Ðo đó, trong các liên tưởng ở người đọc do hình tượng ngôn từ gợi nên có tính chủ quan cá biệt, thậm chí tùy tiện. Nhưng đây lại là đặc trưng bản chất của văn chương. Không nói những yếu tố vô hình mà ngay những yếu tố hữu hình - ví dụ như ngoại hình nhân vật, phong cảnh thiên nhiên 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của hình tượng văn chương, biểu tượng của chúng xuất hiện rất khác nhau ở người đọc, khác với biểu tượng xuất hiện của người xem tranh, xem kịch hay xem chiếu bóng.
Trong các người đọc khác nhau sẽ xuất hiện những biểu tượng khác nhau về cùng một nhân vật văn chương. Chính đo đặc điểm này của hình tượng văn chương mà người ta xem bạn đọc là một khâu trong quá trình sáng tạo. Sáng tạo là bản chất của hình tượng nghệ thuật. Hình tượng nghệ thuật bao hàm cả sự phóng đại, cường điệu, cả sự tỉa xén, nhào nặn.
Hình tượng nghệ thuật là kết quả của trí tưởng tượng và tư duy sáng tạo của người nghệ sĩ. Phản ánh và sáng tạo là hai mặt của quá trình sản sinh ra hình tượng nghệ thuật. Hình tượng nghệ thuật một mặt là hình ảnh của thế giới khách quan, mặt khác là sự sáng tạo lại thế giới khách quan ; một mặt là ý thức tư tưởng mặt khác là hoạt động thực tiễn vật chất của nhà văn; một mặt là khách thể tinh thần mặt khác là thế giới hiện thực. Trong hình tượng nghệ thuật cái cụ thể và cái khái quát xuyên thấu vào nhau, xoắn xuýt lẫn nhau; cái khái quát chuyển ra dưới dạng cái cụ thể, cái cụ thể lại chuyển vào cái khái quát, cái này chuyển thành cái kia; cả hai hòa với nhau làm một.
Sự đánh giá trong hình tượng nghệ thuật không phải là những lời bình luận đưa từ ngoài vào. Sự đánh giá về nghệ thuật nằm ngay trong bản chất của hình tượng. Một hình tượng nghệ thuật vừa bao hàm sự phản ánh về hiện thực vừa bao hàm sự đánh giá về hiện thực đó.